Thay lời tựa
About the Publisher
OceanofPDFcom.
Thay lời tựa
Bài văn này được thiền sư Quy Sơn Linh Hựu viết ra nhằm sách tấn
việc tu học của đồ chúng, nên gọi là văn cảnh sách, và lấy tên ngài để
làm tựa. Từ xưa nay vẫn gọi là “Quy Sơn cảnh sách văn”.
Mặc dù đã ra đời từ hơn ngàn năm qua nhưng bài văn vẫn còn được
truyền tụng, nhờ vào nội dung vô cùng sâu sắc, thâm áo và văn chương
súc tích, lưu loát. Không những thế, đây còn là một áng văn rất được trân
trọng trong chốn thiền môn, hầu như bất cứ ai khi mới bước chân vào
con đường tu học cũng đều phải học thuộc nằm lòng.
Tuy khá ngắn gọn, nhưng tính hàm súc của văn chương đã cho phép
bài văn nêu lên rất trọn vẹn chủ đề muốn nói. Bằng một cách diễn đạt
gây nhiều xúc cảm thay vì là răn đe, quở trách, những lời khuyên dạy của
Tổ sư thật gần gũi và thân thiết, khiến người nghe không khỏi rung động
trong lòng.
Hơn thế nữa, cấu trúc văn từ cũng hết sức hoàn chỉnh, âm vận hài
hoà, vừa đọc lên đã có thể cảm nhận được phần nào ý văn qua âm điệu.
Quả thật là một áng văn trác tuyệt xưa nay ít có.
Với mong muốn giới thiệu cùng quý độc giả một bản văn hay trong
văn chương Phật giáo, cũng là để nhắc nhở cho nhau nghe những lời răn
dạy của bậc Tổ sư ngày trước, nên chúng tôi không nệ chỗ học kém cỏi,
cố gắng chuyển dịch bản văn này sang tiếng Việt để nhiều người có thể
dễ dàng tìm đọc.
Ngoài ra, chúng tôi cũng giới thiệu đôi nét về hành trạng của Tổ Quy
Sơn - người đã sáng lập ra tông Quy Ngưỡng, một trong các tông phái
quan trọng của Thiền Trung Hoa. Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về
giá trị và bối cảnh ra đời của tác phẩm.
Đồng thời, nhằm giúp cho những ai chưa quen thuộc lắm với chữ
Hán cũng có thể sử dụng được phần nguyên tác để hiểu sâu hơn nội
dung bản văn, chúng tôi cũng biên soạn thêm phần Tham khảo chữ Hán.
Do sở học có giới hạn, chúng tôi biết chắc sẽ không sao tránh khỏi ít
nhiều sai sót khi thực hiện công việc này. Tuy nhiên, với tâm nguyện
mong muốn cho hết thảy mọi người đều được lợi lạc nhờ nơi sự giáo
hóa của chư Phật Tổ, chúng tôi mong rằng sẽ nhận được sự cảm thông
và tha thứ, chỉ dạy từ các bậc tôn túc và quý độc giả xa gần.
Mùa Vu Lan, PL 2547
Trân trọng,
OceanofPDFcom.
Nguyễn Minh Tiến – Chánh văn
Nguyễn Minh Tiến
Chánh văn
Do nghiệp lực trói buộc mà có thân này, không khỏi bao điều khổ lụy.
Thân thể từ cha mẹ sanh ra, vốn thật chỉ là giả hợp các duyên. Dù là
nương nơi bốn đại mà tồn tại, nhưng bốn đại ấy chẳng lúc nào là không
xung khắc.
Chuyện vô thường già chết không hề hẹn trước. Sớm còn tối mất,
thoắt chốc đã sang đời khác; như sương như móc, thoạt có thoạt không;
như cây ven bờ vực, như dây leo vách giếng, có chi bền chắc?
Niệm nhanh chóng nối nhau, chỉ trong chớp mắt, trút hơi thở đã
qua kiếp khác. Sao lại có thể yên lòng mà bỏ phí cuộc đời trôi qua vô ích?
Làm người xuất gia, chẳng thể dâng cho cha mẹ miếng ăn ngon ngọt,
cho đến quyến thuộc cũng đều dứt bỏ. Không lo việc nước, cũng chẳng
kế tục nghiệp nhà; xa lìa xóm giềng thân tộc, xuống tóc theo thầy học
đạo. Vậy nên trong lòng phải biết chuyên cần sớm tối công phu, ngoài
học lấy đức hiền hòa không tranh chấp; xa lánh chốn thế tục mà một
lòng cầu giải thoát.
Lẽ nào vừa được thọ giới phẩm liền tự xưng là bậc tỳ-kheo, ăn hạt
cơm của tín thí thập phương chẳng chịu xét cho cùng do đâu mà có, chỉ
nói bừa rằng việc ấy là lẽ đương nhiên. Ăn xong dụm đầu trò chuyện
huyên thuyên, cứ vậy chạy theo cái vui trong chốc lát, không biết rằng
vui đó chính là nguyên nhân của khổ.
Lăn lóc bao đời theo thói tục, chưa từng nhìn lại chính mình. Thời
gian năm tháng lần lữa luống qua, thọ nhận càng nhiều, lợi dưỡng càng
lắm, chẳng lúc nào nghĩ đến việc dứt bỏ. Tích tụ ngày càng nhiều, chung
quy cũng chỉ là nuôi giữ lấy xác thân phù phiếm.
Đấng Đạo sư đã có lời khuyên răn khuyến khích, tỳ-kheo phải tiến
lên trên đường đạo, chớ nên buông thả thân mình; chuyện ăn mặc ngủ
nghỉ đừng bao giờ hưởng thụ cho đầy đủ. Người ta vốn phần đông tham
đắm vào những chuyện ấy, chỉ quanh quẩn mãi thoắt chốc đã hết đời.
Vậy nên kẻ hậu học chưa hiểu sâu tông chỉ cần phải siêng năng cầu học
với người đã biết. Sao lại toan nói rằng việc xuất gia quý cầu no cơm
ấm áo?
Phật trước kia chế định giới luật, mở bày chỉ dạy người tăm tối; oai
nghi phép tắc trong sạch như băng tuyết. Kẻ mới phát tâm nương theo đó
mà ngăn chặn mọi điều sai phạm. Phép tắc tinh vi, dẹp bỏ hết những
điều tồi tệ. Nơi truyền dạy giới luật chưa từng lạm được nương theo,
pháp rốt ráo thượng thừa làm sao hiểu thấu? Thật đáng tiếc thay, bỏ phí
một đời trôi qua vô ích, sau dù hối tiếc cũng không còn kịp nữa. Lời Phật
dạy không chịu ghi lòng tạc dạ, thì đạo nhiệm mầu không thể do đâu mà
tỏ ngộ.
Cho đến khi tuổi tác về già, dù xuất gia trải đã nhiều năm mà trong
tâm thật chẳng được gì. Vì chẳng chịu gần gũi học người hiền đức, chỉ
biết ngông nghênh cao ngạo.
Chưa thông giới luật, chẳng biết tự chế phục mình. To tiếng nặng lời
khoác lác huyênh hoang, chẳng biết kính nhường kẻ trên người dưới, so
ra khác gì ngoại đạo? Đến bữa ăn khua bát ồn ào, ăn vội vàng đứng dậy
đi trước. Đi ở không tuân phép tắc, chẳng ra dáng vẻ bậc xuất gia; đứng
ngồi hoảng loạn, náo động tâm người khác. Phép tắc ít nhiều chẳng giữ,
oai nghi lớn nhỏ đều không, chẳng dựa vào đâu để răn đe kẻ dưới, mà
người mới nhập đạo nhìn vào cũng chẳng thấy có gì để noi theo học.
Như có ai vừa chỉ ra chỗ sai sót, liền bảo rằng: Như ta đây mới thật
bậc ẩn tu! Chưa nghe làm theo lời Phật dạy, chỉ một lòng ôm giữ tánh
tình thô thiển. Chỗ thấy biết như vậy, chung quy cũng là vì khi mới nhập
đạo biếng nhác chẳng tinh cần, tham đắm thế tục, lần lữa qua ngày.
Thấm thoát hết đời thành ra buông lung thô lỗ. Thoắt chốc đã già nua lụm
cụm, gặp việc đành bế tắc. Người mới học đến thưa hỏi chẳng có chi
để chỉ bày. Như có gượng nói ra cũng chỉ là sai kinh lệch nghĩa. Vậy mà
có bị khinh chê, lại trách rằng hậu sinh vô lễ, rồi nổi trận lôi đình to
tiếng với người.
Một mai nằm trên giường bệnh, khổ não đau đớn bức bách không kể
xiết. Bấy giờ mới sớm tối lo sợ, tâm tưởng hoang mang. Đường sắp tới
u ám mê mờ chẳng biết về đâu! Trong lòng hối tiếc cũng không còn kịp
nữa, như kẻ khát nước mới đi đào giếng, có ích lợi gì? Tự hận mình
trước đã không sớm lo tu tập, để khi tuổi già chất chứa đầy tội lỗi. Cái
chết gần kề trong thoáng chốc, hãi hùng khiếp sợ biết bao! Trút hơi thoát
khỏi cuộc đời, như con chim bay xuyên qua dải lụa, nghiệp lực dắt dẫn
thần thức trôi lăn. Như người nhiều nợ lắm chủ theo đòi, ai mạnh được
trước; tạo nghiệp đã nhiều, phải tùy theo chỗ nặng nề nhất mà thọ thân
gánh chịu. Con quỷ vô thường luôn chực cướp đi sinh mạng của mình,
chẳng lúc nào ngưng. Đời người hạn cuộc chẳng thể kéo dài, thời gian
trôi qua không hề chờ đợi. Ba cõi luân hồi chưa thoát được ra thì cứ phải
như thế mà mãi thọ thân lưu chuyển.
Lạ lùng thương cảm biết bao! Trong lòng thương xót thống thiết, há
có thể ngậm miệng không nói? Nên muốn nhắc nhở cảnh tỉnh cho nhau.
Đáng buồn là chúng ta sanh ra cuối thời tượng pháp, cách Phật quá xa,
Chánh pháp chẳng mấy ai am hiểu. Người đời đa phần đều giải đãi. Vì
vậy lược nói ra đây đôi chút thấy biết hẹp hòi để khuyên răn những
người hậu học. Nếu chẳng từ bỏ sự kiêu căng cao ngạo, nết cũ thật khó
chuyển đổi!
Người đã xuất gia, cất bước vượt lên cao xa; tâm tánh, cốt cách khác
người thế tục. Tiếp nối mà làm hưng thịnh đạo pháp, nhiếp phục hết
thảy những thói hư tật xấu. Lấy việc ấy mà báo đáp bốn ơn, bạt khổ
cứu nguy khắp trong ba cõi. Nếu không được vậy, chỉ là kẻ lạm mang
hình tướng xuất gia, lời nói việc làm phóng túng lơ đễnh, uổng nhận sự
cúng dường của thập phương tín thí. Như người giậm chân tại chỗ, dù
nhiều năm qua một tấc chẳng dời! Mơ màng thoắt chốc qua hết một đời,
chẳng biết nương vào đâu làm chỗ dựa!
Huống chi, đường mang hình tướng của một vị tăng, dáng vẻ
tốt đẹp, đều là quả báo có được nhờ căn lành gieo trồng từ thuở trước.
Lẽ đâu lại khoanh tay ngồi yên để thời gian trôi qua không hối tiếc? Sự
nghiệp nếu chẳng chuyên cần, dựa vào đâu mà mong thành đạo quả?
Chẳng những một đời trôi qua vô ích, cho đến kiếp sau cũng chẳng được
gì!
Quyết tâm rời bỏ mẹ cha, khoác áo nâu sòng là ý muốn vượt trên thế
tục. Sớm tối khắc ghi việc ấy, lẽ đâu để luống ngày qua? Nguyện làm
được bậc trụ cột trong Phật pháp, nêu gương hậu thế. Thường mong
muốn như thế cũng chưa hẳn đã được ít nhiều như nguyện.
Mở miệng nói ra phải hợp kinh điển. Luận bàn phải dựa theo những
gương sáng thuở xưa. Hình tướng oai nghi đĩnh đạc, tâm ý khí lực cao cả
thanh thoát.
Đi xa phải có bạn hiền, thường giữ cho tai mắt được trong sạch. Trú
ngụ phải chọn cùng người tốt, thường nghe những việc chưa nghe. Cho
nên nói: “Sinh ta ra là cha mẹ, giúp ta thành người là bạn hữu.” Được gần
người hiền như đi giữa đám hơi sương, tuy không ướt áo nhưng lúc nào
cũng được ẩm mát. Gần kẻ ác thì nuôi lớn thêm điều ác trong chỗ thấy
biết; sớm tối làm việc ác liền phải chịu lấy quả báo trước mắt. Sau khi
chết rồi phải chịu chìm đắm. Thân người một khi mất đi, muôn kiếp khó
lòng được lại.
Lời nói thẳng trái tai, sao không khắc ghi vào tâm khảm? Theo đó liền
có thể lắng sạch tâm trí, nuôi dưỡng đức hạnh, lui về chỗ vắng vẻ không
còn hình tích danh tánh, giữ lòng chuyên chú trong sạch mà dứt hết sự ồn
ào nhiễu loạn.
Như muốn tham thiền học đạo, vượt thẳng qua những pháp môn
phương tiện, tâm phải hợp được với tôn chỉ huyền diệu, cứu xét chi ly
chỗ tinh yếu, quyết định chọn lấy chỗ sâu xa, hiểu thấu cội nguồn chân
thật. Rộng đường học hỏi với những người đi trước, gần gũi bạn hiền.
Cách tu này rất khó đạt đến chỗ kỳ diệu, nên phải khẩn thiết dụng
tâm tinh tế, mới có thể do trong ấy mà tức thời hiểu được chỗ cốt yếu
nhất, liền nương theo đó mà dần ra khỏi trần tục.
Như vậy tức là phá sạch hết hai mươi lăm cảnh có trong ba cõi. Hết
thảy các pháp trong ngoài đều rõ biết là không thật. Do tâm khởi hiện, tất
cả đều là tên gọi không thật. Đừng để tâm bám víu nương đắm. Chỉ cần
tình ý không nương đắm theo vật, thì vật làm sao ngăn ngại được người?
Mặc cho muôn pháp chuyển xoay, không dứt bỏ cũng không nối tiếp.
Nghe biết âm thanh hình sắc, thảy đều là những chuyện bình thường;
dù bên này hay bên kia, chỗ ứng dụng thảy đều đầy đủ.
Chỗ làm nếu được như thế, thật không uổng đã mặc áo xuất gia. Báo
đáp được bốn ơn, bạt khổ cứu nguy khắp trong ba cõi. Như trong nhiều
kiếp vẫn có thể không thối chí, thì quả Phật nhất định đạt tới. Đối với ba
cõi không còn ràng buộc, chỉ như người khách đến đi, lúc hiện lúc ẩn đều
có thể làm khuôn phép cho kẻ khác.
Tu theo phép học đạo tham thiền như vậy, quả là pháp môn huyền
diệu hơn hết. Chỉ cần có đủ quyết tâm, pháp không sai dối.
Như với người ở mức bình thường, không thể nhất thời vượt thoát,
thì nên hết sức chú tâm tìm tòi học hỏi giáo pháp. Thông thuộc kinh điển,
nghiền ngẫm cứu xét nghĩa lý tinh tường, rồi truyền rộng ra khắp nơi,
dẫn dắt người hậu học, báo đáp ơn đức Phật.
Thời gian trôi qua, chớ nên luống mất, phải nên lấy sự tu tập như trên
mà làm chỗ dựa đời mình. Giữ lấy oai nghi, thành bậc pháp khí giữa
chúng tăng.
Chẳng thấy như dây leo kia, nhờ dựa vào thân cây tùng mà lên được
đến tầng cao chót vót. Hãy chọn nhân lành cao trổi mà ký thác đời mình,
mới có thể rộng làm lợi ích. Phải hết lòng tu tập, giữ gìn trai giới, đừng
khinh thường mà giảm bớt hoặc bỏ qua. Đời kiếp về sau nhờ
đó mà được hưởng quả phước rất nhiệm mầu.
Không nên nhàn nhã để phí ngày qua, biếng nhác bỏ đi thời khắc.
Thời gian quý giá biết bao, sao chẳng cầu vươn tới? Uổng nhận của thập
phương tín thí, lại phụ cả bốn ơn. Phiền lụy chất chứa càng nhiều, bụi
trần khuất lấp tâm trí, đường tới thành ra ngăn lấp, người đều
khinh chê.
Người xưa nói: “Đã là trượng phu, ai cũng có thể làm nên việc.”
Không nên tự hạ thấp mình mà nhụt tâm, thối chí. Nếu không được như
vậy, thật uổng công xuất gia, thoắt chốc qua hết một đời không chút ích
lợi.
Thành khẩn cầu mong các vị đều bừng cao chí khí quyết liệt, mở
rộng hoài bão khác người. Mỗi việc làm đều noi gương những bậc
cao thượng, chẳng buông thả theo kẻ thấp hèn.
Chỉ một đời này quyết tu hành chứng đạo, tự mình lo liệu chẳng dựa
vào ai. Ngăn dứt vọng niệm, cắt đứt muôn duyên, không còn chạy theo
trần cảnh. Tâm không cảnh lặng, chỉ vì ngăn ngại đã lâu nên chẳng suốt
thông.
Hãy đọc kỹ bài văn này, luôn tỉnh giác gắng tu. Mạnh mẽ tự chủ
lấy mình, đừng buông thả theo thói thường. Nghiệp quả dẫn dắt người
đi thật khó lòng trốn tránh, như âm thanh thế nào tiếng vọng thế ấy, hình
thể có ngay thì bóng soi mới thẳng. Nhân quả rõ ràng như thế, lẽ nào
không lo sợ?
Vì vậy trong kinh nói rằng: “Dù việc làm đã trải qua trăm ngàn kiếp,
nghiệp quả không thể mất. Khi nhân duyên đã hội đủ rồi, quả báo phải
tự nhận lấy.” Vậy nên biết rằng, hình phạt trong ba cõi luôn bám theo mà
giết hại người, phải nỗ lực chuyên cần tu tập, đừng bỏ phí ngày qua.
Bởi hiểu thấu được sự nguy hại của tội lỗi, nên mới khuyên nhau tu
tập hành trì. Nguyện sao trong trăm ngàn kiếp, dù sinh ra ở đâu cũng
được cùng nhau làm bạn đồng tu.
Có bài tụng để khuyên răn rằng:
Thân h ư huy ễn tr ong m ộng,
Hình s ắcgi ữa ch ốn không.
Việcđã qua không cùng,
Việcv ề sauai bi ết?
Sanh đây, thác v ềkia,
Chìm n ổi,lăn lóckh ổ.
Chưathoát ngoàibacõi,
Sao có th ểngh ỉyên?
Tham luy ến ch ốn th ế gian,
Nămu ẩnduyênh ợpthành.
Sanhra mãi đ ếngià,
Rốtkhôngđ ược gìc ả!
Gốcr ễ t ự vôminh,
Từđóph ảimê l ầm.
Ngày tháng lu ốngtrôiqua,
Thời kh ắc khôngl ườngđ ược.
Một đ ờinàyu ổngphí,
Quađ ờikhác ch ẳng thông.
Tiếp n ối mãimêl ầm,
Đều do sáutêngi ặc.
Lănlóc gi ữa sáu đ ường,
Loanhquanhtr ongbacõi.
Sớmc ầu b ậc minh s ư,
Gần gũing ườiđ ức h ạnh.
Thântâm khéo ch ọnl ựa,
Quéth ếtbao gaigóc.
Đờin ổitrôi phùphi ếm,
Sao đ ể duyên thúc b ức?
Phảixét cùngpháplý,
Quyếtch ứng ng ộ đ ạom ầu.
Tâmc ảnh đ ềum ất s ạch,
Khôngnh ớ, khôngt ưởng đ ến.
Sáu căntùy t ựnhiên,
Đi ở đ ều v ắngl ặng.
Vọngtâm khôngsanhkh ởi,
Muôn pháp t ựd ứt lìa.
OceanofPDFcom.
Viết sau khi dịch
Bản dịch này tôi viết xong đã nhiều năm nay, từng đưa cho nhiều vị tôn
túc xem qua, đều nói là rõ ràng, dễ hiểu. Tuy nhiên, bản thân tôi mỗi lần
đọc lại vẫn thấy một khoảng cách nhất định giữa bản dịch và nguyên tác.
Cho dù đã cố gắng hết sức mình, tôi vẫn không sao hài lòng được với
việc đã làm.
Tuy nhiên, điều làm tôi cảm thấy phần nào được an ủi là, đây không
phải trường hợp duy nhất đối với các bản văn hay bằng chữ Hán. Còn
nhớ cách đây gần hai mươi năm, bài thơ Hoa cúc của thiền sư Huyền
Quang cũng đã từng làm tôi suy nghĩ mãi, vì không sao dịch hết được ý
thơ trong nguyên tác. Chỉ riêng một câu “Phần hương độc tọa tự vong
ưu” () đã là một thách thức gần như không thể vượt qua! Thế rồi,
nhiều năm sau, được đọc các bản dịch của những bậc tiền bối lão thành,
uyên bác... tôi mới vỡ lẽ ra là, ngay cả các vị cũng không xóa bỏ được
khoảng cách giữa bản dịch và nguyên tác. Và tôi còn nhận ra một điều:
Nguyên tác càng hay thì khoảng cách này dường như càng lớn!
Tính hàm súc của văn chương chữ Hán gần như không thể phủ nhận
được, nhất là với những bản văn hay. Việc chuyển dịch rõ ràng là có
những giới hạn nhất định rất khó lòng vượt qua. Vì thế, để thật sự có
thể cảm nhận được cái hay của nguyên tác, quả thật không gì bằng đọc
hiểu được trực tiếp từ chữ Hán. Theo lời cha tôi kể lại, những người
xuất gia ngày trước buộc phải đọc hiểu được và học thuộc lòng bản văn
này bằng chữ Hán. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho ít người
nghĩ đến việc dịch sang tiếng Việt.
Ngày nay có khác. Lớp trẻ bây giờ không mấy người đọc được chữ
Hán. Vì thế, việc chuyển dịch sang tiếng Việt có lẽ là cách tốt nhất để
giới thiệu bản văn hay này đến với nhiều người. Cho dù có những hạn
chế nhất định như đã nói, nhưng tâm huyết của người xưa cũng có thể
nhờ đó mà không đến nỗi phải mai một.
Tuy nhiên, để bù đắp phần nào cho những thiếu sót khi chuyển dịch,
việc diễn giải thêm một vài ý chính có lẽ cũng là một việc nên làm.
OceanofPDFcom.
Nhân quả và vô thường
Nhân quả là một trong những nguyên lý cơ bản quan trọng nhất trong
Phật pháp. Khổ não đời này tất yếu là do nghiệp lực từ đời trước. Vì thế
mà có thân là có khổ, bởi thân này vốn do nghiệp lực sinh ra, chịu sự chi
phối, dắt dẫn của nghiệp lực. Nghiệp đã buộc nơi thân, vấn đề không
phải là làm sao tránh né, mà là phải đối mặt và vượt qua như thế nào.
Soi rọi vào bản chất thật sự của thân này, mới hay rằng bốn đại vốn
đều không thật. Có người cho rằng quan niệm về “bốn đại” của thời xa
xưa nay không còn đúng nữa. Thật ra, về mặt nguyên lý thì vấn đề vẫn
không có gì thay đổi cả. Tính giả hợp của bốn đại, hay tính giả hợp của
các nguyên tử, phân tử, tế bào... vẫn là như nhau, có khác chăng chỉ là tên
gọi cho phù hợp với sự hiểu biết về vật chất của mỗi giai đoạn. Còn
tính triết lý hàm chứa trong quan niệm này quả thật không thay đổi, vẫn
luôn đúng đắn. Nghĩ mà xem, rõ ràng là chúng ta không thể, và cũng sẽ
không bao giờ có thể tìm được một “cái ta thật có” trong những yếu tố
giả hợp đó, cho dù có gọi đó là “bốn đại”, hay “phân tử”, hay “tế bào”...
gì đi nữa. Sự giả hợp của chúng để tạo thành xác thân vật chất này là
một sự gá mượn hoàn toàn nơi các nhân duyên. Nhân duyên đầy đủ thì
hội tụ, nhân duyên hết thì tan rã... Dù muốn hay không ta cũng chẳng thể
nào làm chủ được sự tồn vong của xác thân này.
Trong rất nhiều kinh Phật, tính không thật của “thân tứ đại” này luôn
được nhắc đến như một thực tế cần ghi nhớ. Tuy nhiên, cái nguyên lý
“tứ đại giai không” vốn dĩ rất ít người thật sự cảm nhận được, mà cái
“có thật” của thân này thì không ai là không biết. Cái gọi là “có thật” đó,
chính là những khổ lụy mà mỗi người chúng ta đều phải gánh chịu ngay
từ thuở lọt lòng. Những khổ lụy ấy, nhìn xa là do nơi nghiệp lực, mà nhìn
gần thì chính là do bởi sự “xung khắc” thường xuyên của các yếu tố cấu
thành thân này. Bởi vậy, có thân là có khổ! Điều này thật sâu sắc biết
bao! Ở đây lời văn chỉ gợi nhắc chỗ cốt tủy để mở đầu cho những ý
hướng khác, nếu đi sâu vào phân tích lý nhân duyên, nghiệp quả thì còn
biết bao nhiêu điều để nói!
Tuy là cội nguồn của khổ lụy, nhưng thân này lại chẳng lấy gì làm
bền chắc. Dù muốn dù không, chúng ta hầu như cũng hoàn toàn không
thể đảm bảo được sự tồn tại của nó, dù là chỉ trong thoáng chốc. Bởi
vậy, kinh Tứ thập nhị chương dạy rằng, mạng người còn mất chỉ trong
hơi thở. Sớm còn, tối mất, mỏng manh “như sương như móc”, “như cây
ven bờ vực, như dây leo vách giếng”... Quả là những hình ảnh so sánh rất
rõ ràng minh bạch. Mạng người đã thế, có chi là bền chắc?
Trong thực tế quanh ta, chuyện sống chết cũng không ít trường hợp
diễn ra hoàn toàn không báo trước. Hôm nay gặp nhau, ngày mai không
còn nữa. Vừa mới chuyện trò vui vẻ cùng nhau, phút chốc đã nghe tin
dữ... Những chuyện như thế, quả thật không lạ lùng gì đối với bất cứ ai.
Tuy nhiên, điều lạ lùng nhất là rất ít người thường xuyên nghĩ đến, nhớ
đến thực tế ấy! Nếu người ta luôn nhớ đến điều này, cuộc sống hẳn đã
tốt đẹp hơn nhiều lắm, bởi chẳng mấy ai lại còn có hứng thú để lao vào
những cuộc tranh chấp hơn thua, gây gổ cùng nhau khi biết rằng cuộc
sống quý giá này vốn rất mong manh, ngắn ngủi. Tính chất vô thường
hóa ra lại là một cái gì đó “rất thường” mà không mấy người chịu để tâm
suy ngẫm.
Nêu lên lý nhân quả, sự giả hợp của các duyên và tính cách tạm bợ
của đời sống, bài văn đã phác thảo được một tiền đề quan trọng cần
thiết cho những ý tưởng sách tấn sẽ được trình bày nối tiếp theo sau.
OceanofPDFcom.
Chí hướng xuất gia
Cuộc sống đã mong manh ngắn ngủi, sự nghiệp một đời biết dựa vào
đâu để gọi là đại sự? Bởi vậy, người có đủ trí tuệ và ý chí không thể
không chọn con đường xuất thế. Nếu không được vậy, thật là “bỏ phí
cuộcđ ờitrôiqua vô ích” vậy.
Nhưng đại nghiệp xuất thế không phải một sớm một chiều đã có thể
làm nên. Huống chi có được xác thân này vốn là nhờ ơn sinh thành dưỡng
dục của mẹ cha như trời biển, lại thêm sự dạy dỗ, nâng đỡ của thầy cô,
bạn hữu... cho đến sự bảo bọc, cậy nhờ nơi xóm giềng, xã hội... Đã vậy,
nếu không biết nghĩ đến phần trách nhiệm của mình đối với tất cả, thì
dẫu chuyện nhỏ cũng chưa thể gọi là thành tựu, huống hồ là đại sự!
Nhưng đây vốn là tâm niệm rất dễ mắc phải của người xuất gia!
Một khi lập chí xuất trần, thường xem nhẹ hết thảy những gì thuộc về
thế tục. Vấn đề thật ra không đúng là như vậy. Dù quả thật đã không còn
có thể “dâng cho cha mẹ miếng ăn ngon ngọt”, cũng “không lo việc
nước”, “chẳng kế tục nghiệp nhà”... nhưng những điều đó hoàn toàn
không có nghĩa rằng người xuất gia là rũ bỏ mọi bổn phận, trách nhiệm
làm người. Sự khác biệt ở đây là cần phải dốc chí “làm nên đại sự” như
một phương tiện để báo đáp công ơn của những ai đã từng thương yêu,
bảo bọc cho mình. Bởi vậy, người xuất gia phải canh cánh bên lòng trách
nhiệm nặng nề là phải vượt lên trên mọi chuyện tầm thường thế tục mà
một lòng cầu đạo giải thoát.
OceanofPDFcom.
Những điều nên tránh
Tuy rằng tâm nguyện, ý chí của người xuất gia là to lớn khôn cùng,
nhưng nếu không khéo nghiêm trì giới luật, vâng theo lời giáo huấn của
Bổn sư thì thật rất dễ lầm đường lạc lối. Trong văn này, Tổ sư nêu lên
những ý chung, mà khi xét lỗi riêng đời nay không ít người mắc phải.
Lỗi đầu tiên dễ mắc phải nhất là sự tự mãn, kiêu căng. Người xuất
gia vừa thọ Đại giới xong, oai nghi hình tướng đầy đủ thì ai cũng đều
cung kính, trân trọng, cho đến những bậc quyền thế của thế gian cũng
quỳ lạy lễ bái. Nhiều người không biết rằng sự cung kính đó bước đầu
vốn dĩ có được chỉ là nhờ nơi hình tướng tăng sĩ, còn oai nghi đức hạnh
thật sự của mỗi người là việc không phải tự nhiên có được. Vì không
phân biệt được chỗ khác biệt này, nên thay vì chuyên cần tu tập, tinh
chuyên giới luật để xứng đáng với cương vị bậc xuất gia, lại sanh tâm
kiêu mạn tự cho rằng mình đã có được oai đức hơn người. Nghĩ như thế
nên xem việc thập phương tín thí cúng dường chu cấp vật thực cho mình
chỉ là chuyện đương nhiên phải vậy! Tâm đã kiêu mạn như thế nên
không thể theo con đường khổ hạnh tinh chuyên, chỉ biết sống buông thả
theo vật dục, theo những tình cảm thế tục thông thường không khác,
quên mất rằng những điều ấy thảy đều là nguyên nhân chuốc lấy khổ
não về sau!
Nếu biết nhớ lại chí hướng lúc xuất gia, nhớ lại những trách nhiệm
nặng nề khi bước chân vào con đường xuất thế, thì chẳng thể nào lơ là
buông thả được. Phật dạy rằng, người xuất gia lấy đạo nghiệp thay cho
sự nghiệp của thế tục, phải biết tự thân tiến mãi không ngừng trên
đường tu tập. Bởi vậy luôn phải ghi nhớ trong lòng câu “tam thường bất
túc”, “chuyện ăn mặc, ngủ nghỉ đừng bao giờ hưởng thụ đầy đủ”. Nếu
chỉ biết mong cầu “no cơm ấm áo” thì thật là uổng phí cả một đời, cho
dù có sớm kinh tối kệ thì rốt cùng cũng chẳng có được chút ích lợi gì.
Chỗ nương dựa trước tiên của người xuất gia nhất thiết phải là giới
luật. Trước khi Phật nhập Niết-bàn cũng đã ân cần dặn dò hàng đệ tử về
sau phải lấy giới luật làm thầy, xem đó như Phật còn tại thế. Thật đáng
tiếc có những người tự cho mình là lợi căn thượng trí, chỉ muốn nghiên
tầm những nghĩa lý sâu xa mà không chú trọng đến việc tinh chuyên giới
luật. Đây là một sai lầm rất lớn mà bất cứ ai khi đã mắc vào đều khó
lòng tăng tiến trên đường tu tập. Bởi vì giới luật vốn dĩ là cái nền móng
chắc chắn nhất định phải có để thực hành bất cứ pháp môn nào.
Chỉ riêng một việc không nghiêm trì giới luật là gốc của muôn ngàn
lỗi lầm sai trái khác. Tự thân chẳng giữ được phép tắc oai nghi, trí huệ
cũng không do đâu mà sinh khởi; chẳng những đã không có chút lợi lạc
cho riêng mình, lại còn gây cản trở việc tu tập của mọi người chung
quanh. Một mai tuổi cao tác lớn, thành bậc lão thành trong tăng chúng
nhưng lại chẳng có gì để cho kẻ hậu học noi theo. Có ai đến hỏi nghĩa lý
sâu mầu trong kinh điển cũng chẳng biết lấy gì mà giảng giải. Hơn thế
nữa, vì tâm kiêu mạn chưa được dứt trừ, nên không thể tự thấy biết lỗi
mình, thường đem tâm sân hận mà đáp lại với người muốn giúp mình sửa
lỗi. Những sai lầm này, tuy là đối với mỗi người đều có chỗ khác biệt
tinh tế, nhưng tựu trung cũng không ngoài những điều mà Tổ sư đã nêu ra
trong văn này.
Điều quan trọng được nhấn mạnh ở đây không phải là sự so sánh hơn
thua cùng người khác, mà là tính chất khẩn thiết, nhanh chóng của cuộc
sống vô thường ngắn ngủi này. Thoắt chốc đời sống đã qua đi, thọ mạng
không còn, cái khổ già nua, bệnh hoạn lại có thể ập đến tưởng như trong
chớp mắt. Một khi lìa bỏ kiếp này, vốn liếng một đời chẳng có gì để
mang theo, liền chịu sự dắt dẫn của nghiệp lực mà trôi lăn vào ác đạo.
OceanofPDFcom.
Những việc nên làm
Vì thế, một khi đã quyết chí xuất gia, không sợ thân mình nhiều lỗi, chỉ
sợ nết cũ khó chừa. Dù có bao nhiêu thói hư tật xấu mà chịu một lòng
nghiêm trì giới luật, học hỏi chuyên cần, thì chẳng lo gì ngày một tinh
tấn hơn. Bởi Phật chế giới luật vốn dĩ là vì người có lỗi, không phải
dành cho các bậc thánh tịnh hạnh. Chỉ cần một lòng tin tưởng giữ theo,
cho dù người có nhiều tật xấu đến đâu rồi cũng dần sẽ được trở nên
oai nghi thanh tịnh.
Người xuất gia phải xem việc cúng dường của thập phương tín thí
như món nợ lớn. Một lòng cầu đạo giải thoát thì không lo gì nợ kia không
trả hết; nhưng nếu lơ là giải đãi, quyết chẳng tránh đâu được có ngày
phải trả lại đủ cho người từng hạt gạo, cọng rau đã từng thọ nhận.
Tự mình có đủ nhân duyên để đứng vào hàng tăng chúng vốn đã là
một phước báu phải tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, không phải ai cũng
dễ dàng có được. Vì vậy mà người xuất gia phải ngày đêm ghi nhớ mục
đích đã đề ra cho cả một đời mình, phải rèn luyện cho mình thành bậc
pháp khí trụ cột trong đạo pháp. Có như vậy mới không uổng đi chí
nguyện ban đầu.
Việc tu tập tuy là phải nương theo sự dẫn dắt của bổn sư, nhưng
được gần gũi với những người bạn tốt cũng là điều lợi lạc vô cùng to
lớn. Bởi vậy mà so sánh như người “đi giữa đám hơi sương, tuy không
ướt áo nhưng lúc nào cũng được ẩm mát”. Với sự dẫn dắt của bậc minh
sư, nếu được thêm những bạn đồng tu khéo biết cùng nhau sách tấn thì
việc tiến tới trên đường đạo có thể nói là không khó lắm. Người tục nói:
“Chọn bạn mà chơi”, cũng không ngoài ý này.
Người bạn hiền thường hay nói thẳng, vì muốn giúp điều tốt cho
mình. Vì thế, phải biết tự răn mình, biết nhận nghe những lời can gián,
phê phán từ người khác. Nếu chỉ muốn được nghe toàn những lời ngon
ngọt êm tai, thì việc sa đọa chắc chắn không bao lâu sẽ đến mà thôi.
OceanofPDFcom.
Thiền học và giáo học
Người xuất gia nếu có đủ quyết tâm và trí tuệ, có thể chọn theo con
đường thẳng tắt của Thiền môn. Đây là con đường cực kỳ khó khăn,
nhưng cũng là con đường có thể giúp người tu nhanh chóng thẳng đến bờ
giải thoát, vì thế mà nói là “vượt thẳng qua những pháp môn phương
tiện”.
Điều quan trọng cần nói ở đây là, người tu nhất thiết phải hết sức
tỉnh táo trong việc tự biết lấy mình. Phải có đủ năng lực, trí tuệ và ý chí
quyết tâm trong việc cầu đạo. Chuyên cần nỗ lực trong công phu hành trì,
hiểu sâu được tông chỉ, ý thú của Thiền đạo thì mới có thể đi đúng
đường mà đạt đến chỗ giải thoát. Bằng như tự cho mình là bậc thượng
căn thượng trí nhưng thật ra lại không đủ sức để vượt thẳng đến cội
nguồn, thì việc lầm đường lạc lối rất dễ xảy ra.
Thử hình dung như một người quyết chí muốn qua sông, tự lượng
biết sức mình rồi mới lao xuống dòng nước để bơi thẳng qua mà chẳng
cần nhờ cậy đến thuyền bè. Nếu quả là người trí lực đầy đủ, tất nhiên
sẽ rút ngắn được thời gian mà điểm đến cũng không khác chi người đi
thuyền. Tuy nhiên, nếu không lượng đúng sức mình thì rõ ràng là bờ kia
chẳng bao giờ đến được.
Người tu thiền tự dựa vào sức mình, cầu đạo giải thoát bằng phương
tiện thẳng tắt cũng giống như người bơi qua sông kia vậy.
Bằng như tự biết sức mình không thể bơi thẳng qua sông, thì tốt hơn
nên nhờ đến thuyền bè, đến người đưa đò... Bằng cách này dù có chậm
chạp hơn, nhưng nếu đã quyết tâm thì chắc chắn cũng sẽ có ngày đến
được bờ bên kia.
Vì thế, việc tu thiền xưa nay vẫn được thừa nhận là pháp môn tối
thượng, huyền diệu hơn hết, nhưng không phải ai cũng có đủ khả năng
để nương theo.
Đối với những người không đủ trí lực để nương theo Thiền đạo, nên
chọn lấy việc chuyên cần học hỏi, hành trì theo giáo pháp. Theo con
đường này cần phải hiểu rõ tông chỉ, nắm vững nghĩa lý trong kinh giáo
và theo đó mà rộng truyền giáo hóa cho người khác. Nhờ nương theo việc
giáo hóa mà tự mình cũng được phần lợi ích tăng tiến. Như vậy gọi là
“tự giác, giác tha”. Cũng lấy việc tự mình tu tập và giáo hóa người khác
mà làm phương tiện báo đền ơn đức Phật.
OceanofPDFcom.
Khuyến tu
Việc đại sự của người xuất gia, những gì nên làm, những gì nên tránh,
đến đây đều đã nêu rõ. Nắm hiểu được như vậy rồi thì chỉ còn một việc
là tự thân mỗi người phải cố gắng quyết chí tu tập hành trì. Ý chí đó
phải được xác lập từ lúc xuất gia và không ngừng vun bồi, củng cố qua
năm tháng. Có như thế mới mong thành tựu được ý nguyện ban đầu.
Bằng không được vậy, thời gian nhanh chóng trôi qua thì hết một đời
cũng không thể hé mở được cánh cửa giải thoát.
Như dây leo nương thân cây cao mà lên được tầng cao chót vót, người
xuất gia phải biết vững niềm tin nơi Tam bảo, ký thác cả đời mình
nương theo Chánh pháp, nhờ đó mới có thể được phần lợi ích cho mình
cũng như rộng làm lợi ích cho bao nhiêu người khác. Nếu không gấp rút
lo việc tu tập, chẳng những một đời này mất phần lợi lạc mà nhiều kiếp
về sau cũng phải chìm đắm trôi lăn trong khổ não.
Được sinh làm người, chỉ cần có quyết tâm thì đạo giải thoát dù khó
khăn cũng không phải là không thực hiện được. Nếu người khác đã có
thể đạt đến, thì mình cũng nên lập chí tựu thành. Không nên tự hạ thấp
mình mà nhụt tâm, thối chí.
OceanofPDFcom.
Kết ý
Tổ sư viết bài văn này, lời lẽ khẩn thiết, chân thành, nêu việc lỗi để răn
dạy, nói điều hay để khuyến khích. Bởi vậy đọc qua có thể cảm nhận
được ngay tấm lòng từ bi vô lượng của người, rộng vì tất cả đồ chúng và
hàng hậu học chúng ta mà khuyên dạy. Dù thời gian năm tháng nối tiếp
trôi qua, mà giờ đây đọc lại văn này vẫn thấy trong lòng đầy cảm xúc.
Nếu không phải nguyện lực của bậc Bồ Tát độ sinh, hẳn không thể viết
ra bài văn kiệt xuất này được.
Tiếc rằng những kẻ hậu học đời nay, nhiều người quên mất chí
hướng xuất trần. Lắm khi mang hình tướng của một vị tăng mà chỗ học,
chỗ hành không khác chi người thế tục. Một khi đọc đến văn này, chẳng
lấy làm xấu hổ lắm sao? Mong rằng nhờ sức từ bi nhiếp độ của Tổ sư,
hết thảy những ai đã lầm đường lạc lối, khi xem đến bản văn này đều sẽ
tự mình thức tỉnh mà phấn chấn sửa mình, chuyên cần tu tập, nhanh
chóng vượt lên bến bờ giải thoát, chỗ lợi ích cho mình cho người đều
nhờ đó mà được thành tựu viên mãn.
OceanofPDFcom.
Hành trạng Tổ Quy Sơn Linh Hựu
Hành trạng
Tổ Quy Sơn Linh Hựu
Tổ sư sinh năm 771, vốn người họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu.
Ngài xuất gia năm 15 tuổi, theo thầy là Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện.
Năm 20 tuổi thọ giới Cụ túc tại chùa Long Hưng thuộc Hàng Châu, pháp
hiệu là Linh Hựu.
Từ khi xuất gia, ngài chuyên cần học tập kinh điển của cả Đại thừa
và Tiểu thừa. Năm 23 tuổi đến Giang Tây tham bái Tổ Bách Trượng. Tổ
Bách Trượng vừa gặp ngài đã biết ngay là bậc pháp khí, liền thu nhận
làm đệ tử, cho được sớm tối kề cận để tham học.
Một hôm, ngài đang đứng hầu Tổ Bách Trượng. Tổ hỏi: “Ai đó?”
Ngài đáp: “Con là Linh Hựu.” Tổ nói: “Ông khơi trong bếp xem có lửa
hay không?” Ngài đến khơi trong bếp thấy đã tắt hết, bèn nói là không có
lửa. Tổ sư thân tới bên bếp lửa, bới sâu trong tro lấy ra được chút than
còn đỏ, đưa lên mà hỏi rằng: “Ông nói không có lửa, vậy đây là cái gì?”
Ngài nhân lúc đó bừng tỉnh ngộ, lễ tạ thầy trình chỗ sở kiến.
Tổ Bách Trượng nói: “Đây chỉ là chỗ rẽ tạm thời trên đường đi.
Trong kinh nói: Muốn hiểu nghĩa Phật tánh phải xem nơi thời tiết nhân
duyên. Một khi thời tiết đến, như mê chợt ngộ, như quên chợt nhớ, mới
biết ra đó là vật của mình, không phải do bên ngoài mà có được. Vì thế,
Tổ sư nói rằng: Ngộ rồi cũng như chưa ngộ, không có tâm cũng không có
pháp, chính là không các tâm hư vọng, tâm phàm, tâm thánh... Từ xưa nay
tâm pháp vốn tự đầy đủ, nay ông đã được rồi, phải khéo tự giữ gìn.”
Sau, ngài được Tổ Bách Trượng cho giữ chức Điển tòa.
° ° °
Bấy giờ có Tư Mã Đầu Đà là một vị thiền sư du phương. Một hôm từ
Hồ Nam đến chỗ Tổ Bách Trượng, nói rằng: “Tôi đến xứ Hồ Nam tìm
được một ngọn núi tên là Đại Quy, là nơi có thể dung chứa đến 1.500
người, chính là chỗ dành cho bậc thiện tri thức cư ngụ.”
Tổ Bách Trượng hỏi: “Lão tăng này đến đó ở được chăng?”
Tư Mã Đầu Đà đáp: “Không phải chỗ Hòa thượng ở được.”
Lại hỏi: “Vì sao vậy?”
Tư Mã Đầu Đà nói: “Hòa thượng như xương, núi kia như thịt, nếu có
đến ở thì đồ chúng không tới số ngàn.”
Tổ Bách Trượng lại hỏi: “Như trong đồ chúng của ta, có ai được
chăng?”
Tư Mã Đầu Đà đáp: “Phải đợi xem qua mới biết.”
Tổ Bách Trượng liền bảo thị giả gọi vị Thủ tòa là thiền sư Hoa Lâm
đến, hỏi Tư Mã Đầu Đà rằng: “Người này được chăng?”
Tư Mã Đầu Đà quan sát, bảo Hoa Lâm đằng hắng một tiếng và bước
đi mấy bước, rồi nói: “Không thể được.”
Tổ Bách Trượng lại cho gọi ngài - tổ Quy Sơn - đến. Tư Mã Đầu Đà
vừa nhìn thấy liền nói: “Vị này chính là chủ nhân của Quy Sơn rồi.”
Đêm ấy, Tổ Bách Trượng gọi ngài vào trong phòng, dặn dò rằng: “Ta
tùy duyên giảng pháp nơi đây, còn chỗ thắng cảnh Quy Sơn là nơi ông
nên đến ở để tiếp nối tông môn của ta mà rộng độ cho những người hậu
học.”
Thiền sư Hoa Lâm nghe biết chuyện, thưa hỏi: “Con nay là người
đứng đầu trong chúng, sao vị Điển tòa lại được làm trụ trì?”
Tổ Bách Trượng nói: “Nếu ai có thể đối trước chúng nói ra một câu
xuất cách sẽ cho làm trụ trì.”
Rồi chỉ cái tịnh bình mà hỏi: “Không được gọi là tịnh bình, ông gọi là
gì?”
Hoa Lâm nói: “Không thể gọi là cây lủng.”
Tổ Bách Trượng lại hỏi ngài. Ngài đá cái tịnh bình ngã nhào rồi đi ra.
Tổ Bách Trượng cười nói: “Ông đệ nhất tòa thua mất hòn núi này rồi.”
Liền sai ngài đến Quy Sơn.
° ° °
Quy Sơn là ngọn núi cao chót vót, không có bóng người, vượn khỉ tụ
tập thành bầy. Ngài nhặt những trái sung, trái dẻ mà làm thức ăn. Được
chừng năm bảy năm qua, chẳng có ai lui tới. Ngài tự nghĩ: “Ta đến đây
làm trụ trì là muốn làm lợi ích cho người. Nay đường xá đến đây chẳng
được, làm sao có người tụ họp?” Liền rời khỏi am thất mà tìm xuống
núi. Ra đến cửa núi, thấy những rắn độc, hổ báo, lang sói chặn đầy
ngang đường. Ngài nói: “Này các giống thú, đừng chặn đường đi của ta.
Như ta có duyên với núi này, các ngươi hãy đi nơi khác. Như ta không có
duyên với núi này, các ngươi không cần đi, ta theo đường mà đến cho các
ngươi ăn thịt vậy.”
Nói xong, tất cả các giống thú dữ ấy liền tứ tản đi mất hết. Ngài lại
quay về am thất. Chưa được một năm sau, thượng tọa Lại An cùng với
một số tăng chúng từ chỗ ngài Bách Trượng tìm đến mà trợ giúp với ngài.
Lại An nói: “Tôi xin vì Hòa thượng mà làm chức Điển tòa, đợi tăng chúng
được 500 vị mới thôi.”
Từ đó về sau, dân cư dưới núi mới dần biết đến, lập nên cảnh
chùa. Liên soái Lý Cảnh Nhượng có tâu lên vua xin ban hiệu chùa là
Đồng Khánh. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường đến thưa hỏi những chỗ
sâu xa huyền diệu. Người trong thiên hạ đến học thiền ngày càng đông
đúc. Trong những vị đắc pháp có thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch là bậc
cao trổi, nên người đời tôn xưng tông này là tông Quy Ngưỡng.
Ngài rộng truyền giáo pháp được hơn 40 năm. Vào niên hiệu Đại
Trung thứ 7 đời nhà Đường, ngày mồng 9 tháng Giêng, ngài tắm gội sạch
sẽ rồi ngồi an nhiên vui vẻ mà thị tịch, thọ 83 tuổi, trải 64 tuổi hạ. Vua
ban thụy hiệu là Đại Viên Thiền sư, dựng tháp thờ tại Quy Sơn, đặt tên
tháp là Thanh Tịnh. Vì thế, pháp hiệu của ngài là Linh Hựu nhưng người
đời thường tôn kính gọi là Quy Sơn Đại Viên Thiền sư.
Bài văn cảnh sách do ngài làm ra được truyền tụng khắp chốn thiền
môn, trải qua nhiều đời sau vẫn còn được trân trọng.
OceanofPDFcom.
Phần dịch âm – Quy Sơn Đại Viên Thiền sư cảnh sách văn
Phần dịch âm
Quy Sơn Đại Viên Thiền sư cảnh sách
văn
Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miễn hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả
chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi bội.
Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ. Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế.
Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi
năng trường cửu!
Niệm tấn tốc, nhất sát-na gian, chuyển tức thị lai sanh. Hà
nãi yến nhiên không quá?
Phụ mẫu bất cung cam chỉ, lục thân cố dĩ khí ly. Bất năng an quốc trị
bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự. Miến ly hương đảng, thế phát bẩm
sư. Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng bất tranh chi đức, huýnh
thoát trần thế, kí kỳ xuất ly.
Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã thị tỳ-kheo? Đàn việt sở tu,
khiết dụng thường trú, bất giải thỗn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hiệp
cúng. Khiết liễu tụ đầu huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại.
Nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc, bất tri lạc thị khổ nhân!
Nẵng kiếp tuần trần, vị thường phản tỉnh. Thời quang yểm một, tuế
nguyệt sa đà, thọ dụng ân phồn, thí lợi nùng hậu, động kinh niên tải bất
nghĩ khí ly. Tích tụ tư đa bảo trì huyễn chất.
Đạo sư hữu sắc, giới húc tỳ-kheo, tiến đạo nghiêm thân tam thường
bất túc. Nhân đa ư thử đam vị bất hưu, nhật vãng nguyệt lai, táp nhiên
bạch thủ. Hậu học vị văn chỉ thú, ưng tu bác vấn tiên tri, tương vị xuất
gia quý cầu y thực.
Phật tiên chế luật, khải sáng phát mông; quỹ tắc uy nghi tịnh như
băng tuyết. Chỉ trì tác phạm, thúc liễm sơ tâm, vi tế điều chương cách
chư ổi tệ. Tỳ ni pháp tịch tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa khởi
năng chân biệt? Khả tích nhất sanh không quá, hậu hối nan truy. Giáo lý
vị thường thố hoài, huyền đạo vô nhân khế ngộ!
Cập chí niên cao lạp trưởng, không phúc cao tâm, bất khẳng thân phụ
lương bằng, duy tri cứ ngạo. Vị am pháp luật, tập liễm toàn vô. Hoặc đại
ngữ cao thanh, xuất ngôn vô độ. Bất kính thượng trung hạ tọa, bà-la-môn
tụ hội vô thù. Oản bát tác thanh, thực tất tiên khởi. Khứ tựu quai giác,
tăng thể toàn vô; khởi tọa chung chư, động tha tâm niệm. Bất tồn ta ta
quỹ tắc, tiểu uy nghi, tương hà thúc liễm hậu côn, tân học vô nhân
phỏng hiệu.
Tài tương giác sát, tiện ngôn ngã thị sơn tăng. Vị văn Phật giáo hành
trì, nhất hướng tình tồn thô tháo. Như tư tri kiến cái vị sơ tâm dung đọa,
thao thiết nhân tuần, nhẫm nhiễm nhân gian, toại thành sơ dã. Bất giác
lủng chủng lão hủ, xúc sự diện tường. Hậu học tư tuân vô ngôn tiếp
dẫn. Túng hữu đàm thuyết bất thiệp điển chương. Hoặc bị khinh ngôn,
tiện trách hậu sinh vô lễ, sân tâm phẫn khởi ngôn ngữ cai nhân.
Nhất triêu ngọa tật tại sàng, chúng khổ oanh triền bức bách, hiểu tịch
tư thỗn, tâm lý hồi hoàng. Tiền lộ mang vị tri hà vãng. Tùng tư thỉ
tri hối quá, lâm khát quật tỉnh hề vi! Tự hận tảo bất dự tu, niên vãn đa
chư quá cữu. Lâm hành huy hoắc, phạ bố chương hoàng. Hộc xuyên tước
phi, thức tâm tùy nghiệp. Như nhân phụ trái, cường giả tiên khiên, tâm tự
đa đoan, trọng xứ thiên trụy. Vô thường sát quỷ niệm bất đình,
mạng bất khả diên, thời bất khả đãi. Nhân thiên tam hữu ưng vị miễn
chi, như thị thọ thân phi luận kiếp số.
Cảm thương thán nhạ, ai tai thiết tâm, khởi khả giam ngôn, đệ tương
cảnh sách. Sở hận đồng sanh tượng quý, khứ thánh thời diêu, Phật pháp
sanh sơ, nhân đa giải đãi, lược thân quản kiến dĩ hiểu hậu lai. Nhược bất
quyên căng, thành nan luân hoán.
Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục. Thiệu long
thánh chủng, chấn nhiếp ma quân. Dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu.
Nhược bất như thử, lạm xí tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín
thí. Tích niên hành xứ thốn bộ bất di, hoảng hốt nhất sanh tương hà bằng
thị.
Huống nãi đường tăng tướng, dung mạo khả quan, giai thị túc
thực thiện căn cảm tư dị báo. Tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ, bất quý
thốn âm. Sự nghiệp bất cần, công quả vô nhân khắc tựu. Khởi khả nhất
sanh không quá, ức diệc lai nghiệp vô tì.
Từ thân quyết chí phi tri, ý dục đẳng siêu hà sở. Hiểu tịch tư thỗn,
khởi khả thiên diên quá thời. Tâm kỳ Phật pháp đống lương, dụng tác
hậu lai quy cảnh. Thường dĩ như thử, vị năng thiểu phần tương ưng.
Xuất ngôn tu thiệp ư điển chương, đàm thuyết nãi bạng ư kê cổ.
Hình nghi đĩnh đặc, ý khí cao nhàn.
Viễn hành yếu giả lương bằng, sác thanh ư nhĩ mục. Trú chỉ tất tu
trạch bạn, thời văn ư vị văn. Cố vân: Sanh ngã giả phụ mẫu, thành
ngã giả bằng hữu. Thân phụ thiện giả, như vụ lộ trung hành, tuy bất
thấp y thời hữu nhuận.
Hiệp tập ác giả, trưởng ác tri kiến, hiểu tịch tạo ác, tức mục giao
báo. Một hậu trầm luân, nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục!
Trung ngôn nghịch nhĩ, khởi bất minh tâm giả tai? Tiện năng tháo tâm
dục đức, hối tích thao danh. Uẩn tố tinh thần, huyên hiêu chỉ tuyệt.
Nhược dục tham thiền học đạo, đốn siêu phương tiện chi môn, tâm
khế huyền tân, nghiên cơ tinh yếu. Quyết trạch thâm áo, khải ngộ chân
nguyên, bác vấn tiên tri, thân cận thiện hữu. Thử tông nan đắc kỳ diệu,
thiết tu tử tế dụng tâm, khả trung đốn ngộ chánh nhân, tiện thị xuất trần
giai tiệm.
Thử tắc phá tam giới nhị thập ngũ hữu, nội ngoại chư pháp tận tri bất
thật, tùng tâm biến khởi tất thị giả danh. Bất dụng tương tâm tấu bạc,
đãn tình bất phụ vật, vật khởi ngại nhân. Nhậm tha pháp tính châu lưu,
mạc đoạn mạc tục. Văn thanh kiến sắc cái thị tầm thường, giá biên na
biên ứng dụng bất khuyết.
Như tư hành chỉ, thật bất uổng phi pháp phục, diệc nãi thù báo tứ ân,
bạt tế tam hữu. Sanh nhược năng bất thối, Phật giai quyết định khả
kỳ. Vãng lai tam giới chi tân, xuất một vị tha tác tắc.
Thử chi nhất học tối diệu tối huyền. Đãn biện khẳng tâm, tất bất
tương trám.
Nhược hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu. Thả ư giáo pháp lưu
tâm, ôn tầm bối diệp, tinh sưu nghĩa lý, truyền xướng phu dương, tiếp
dẫn hậu lai báo Phật ân đức.
Thời quang diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phù trì. Trú chỉ uy nghi, tiện
thị tăng trung pháp khí.
Khởi bất kiến ỷ tùng chi cát, thướng tủng thiên tầm; phụ thác thắng
nhân, phương năng quảng ích. Khẩn tu trai giới, mạc mạn khuy du. Thế sanh thù diệu nhân quả.
Bất khả đẳng nhàn quá nhật, ngột độ thời, khả tích quang âm
bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương tín thí, diệc nãi cô phụ tứ ân.
Tích lụy chuyển thâm, tâm trần dị ủng. Xúc đồ thành trệ, nhân sở khinh
khi.
Cổ vân: Bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ. Bất ưng tự khinh nhi thối
khuất. Nhược bất như thử, đồ tại tri môn, nhẫm nhiễm nhất sanh, thù vô
sở ích.
Phục vọng hưng quyết liệt chi chí, khai đặc đạt chi hoài. Cử thố khán
tha thượng lưu, mạc thiện tùy ư dung bỉ.
Kim sanh tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân. Tức ý vong
duyên, bất dữ chư trần tác đối. Tâm không cảnh tịch, chỉ vị cửu trệ bất
thông.
Thục lãm tư văn, thời cảnh sách. Cường tác chủ tể, mạc tuần
nhân tình. Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ. Thanh hòa hưởng
thuận, hình trực ảnh đoan. Nhân quả lịch nhiên, khởi vô ưu cụ.
Cố kinh vân: Giả sử bá thiên kiếp sở tác nghiệp bất vong. Nhân
duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ. Cố tri tam giới hình phạt, oanh
bán sát nhân, nỗ lực cần tu, mạc không quá nhật.
Thâm tri quá hoạn, phương nãi tương khuyến hành trì. Nguyện bá
kiếp thiên sanh, xứ đồng vi pháp lữ.
Nãi vi minh viết:
Huyễn thân m ộngtr ạch
Khôngtrung v ậts ắc.
Tiềnt ế vô cùng,
Hậu t ế ninh kh ắc?
Xuất th ửm ộtb ỉ,
Thăng tr ầm bì c ực.
Vị mi ễntam luân,
Hàth ờih ưu t ức?
Tham luy ếnth ế gian,
Ấm duyênthành ch ất,
Tùngsanhchílão,
Nhất vô s ởđ ắc.
Căn b ảnvôminh,
Nhânt ư b ịho ặc.
Quang âmkh ả tích,
Sát-na b ất tr ắc.
Kim sanhkhôngquá,
Laith ế tr ấtt ắc.
Tùng mê chímê,
Giai nhânl ục t ặc.
Lục đ ạovãng hoàn,
Tamgi ới b ồb ặc.
Tảophóngminhs ư,
Thânc ậncaođ ức.
Quyết tr ạch thântâm,
Khứ kỳkinh c ức.
Thế t ự phù h ư,
Chúng duyên kh ởi b ức.
Nghiêncùng pháp lý,
Dĩng ộ vi t ắc.
Tâmc ảnh câu quyên,
Mạc kým ạc ức.
Lục căndi nhiên,
Hànhtrú t ịch m ặc.
Nhất tâm b ất sanh,
Vạn pháp câut ức.
OceanofPDFcom.
Tham khảo chữ Hán
Chúng tôi biên soạn phần tham khảo này để giúp quý độc giả
nào chưa từng học qua chữ Hán có thể sử dụng để dễ dàng
làm quen với nguyên tác. Nếu tham khảo phần này, hoặc dùng
để h ọc,s ẽcó th ểđ ọc tr ực ti ếp đ ược toànvănb ằngch ữHán.
Các chữ được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó để tiện cho
việc học, và được giải nghĩa giới hạn theo nghĩa dùng trong các
bài vănmàthôi.
nhất → số một, đứng đầu, như nhất sát-na gian (trong khoảng thời
gian một sát-na)
thất → số bảy, đứng thứ bảy, như thất giả tôn trọng kỷ linh
(thứ bảy là tôn trọng tự tánh linh giác)
nãi → là, lại... tiếng trợ từ dùng để đặt câu, như hà nãi... (sao
lại...), tuy nãi... (dù là, tuy là...), nãi chí... (cho đến như...)
cửu → số chín, đứng thứ chín, như cửu giả cầu sinh Tịnh độ
(thứ chín là cầu sinh về Tịnh độ)
liễu → hiểu biết, hiểu rõ, như liễu nghĩa thượng thừa (hiểu rõ
được ý nghĩa của pháp môn rốt ráo cao nhất)
nhị → số hai, dùng trong số đếm, như nhị thập ngũ hữu (hai
mươi lăm cảnh giới hiện hữu)
nhân → người, con người, người ta, như nhân sở khinh khi
(người ta đều khinh chê)
nhập → vào, đi vào, thể nhập vào, như thường văn nhập
đạoy ếu môn... (thường nghe rằng cửa ngõ quan trọng vào Đạo...)
bát → số tám, đứng thứ tám, như tướng hữu kỳ bát (hình
tướng có tám loại)
đao → con dao, lưỡi đao, như đăng đaos ơn (lên núi đao)
lực → sức lực, sức mạnh, như nỗl ực (gắng sức)
thập → số mười, như thập ph ương (mười phương)
hựu → cũng như, lại nữa, lần nữa, như hựu bất tham dục
lạc qu ảbáo (cũng không tham dục lạc, quả báo)
trượng → người, được dùng với ý tôn xưng, kính trọng, như lão
trượng (cụ già), trượng phu (đấng nam nhi)
tam → số ba, thứ ba, như tam thường bất túc (ba việc thường
không đầy đủ - nghĩa là ba chuyện ăn, mặc và ngủ nghỉ)
thượng → trên, phía trên, cao trổi hơn hết, như thượng thừa
(pháp cao trổi hơn hết)
hạ → dưới, phía dưới, thấp kém hơn hết, như bất kính
thượngtrung h ạ t ọa (không cung kính người trên kẻ dưới)
cửu → lâu xa, như trường cửu (lâu dài), cửu trệ (sự ngăn ngại
đã lâu)
dã → trợ từ cuối câu: vậy, thế... như bất khả hoãn dã (không
thể trì hoãn vậy)
vong → mất đi, như giả sử bá thiên kiếp sở tác nghiệp
bất vong (giá như có những điều đã làm trong trăm ngàn kiếp, nghiệp quả
cũng không mất đi)
ngột → mơ hồ, không hiểu rõ, như ngột độ thời (mơ hồ
để thời gian trôi qua)
phàm → nói chung, thông thường, phàm tục, như phàm loại
giai nhiên (muôn loài đều như vậy, phàm phu (người phàm tục)
thiên → một ngàn, như bá thiên ki ếp (trăm ngàn kiếp)
khẩu → cái miệng, cũng chỉ miếng ăn, lời nói, như thân khẩu
sở phí (những sự tiêu dùng cho thân và miệng, tức là chuyện ăn mặc),
sanhb ấtnăng d ưỡngkỳkh ẩu th ể (lúc sống không thể nuôi dưỡng)
độ → đất, vùng đất, cõi nước, như Tịnh độ (cõi nước thanh tịnh,
chỉ thế giới Cực Lạc ở Tây phương), tại thử độ tu hành (tu hành ở
cõi nước ấy)
sĩ → người thuộc một giai cấp, hạng loại nào, như nho sĩ (người
học đạo Nho), trung l ưu chi sĩ (người thuộc hạng trung bình)
tịch → chiều tối, như triêut ồnt ịch vong (sớm còn tối mất)
đại → lớn, quan trọng, như tứ đại (bốn yếu tố quan trọng),
đại nhân (tiếng tôn xưng người quan trọng)
nữ → người nữ, đàn bà, con gái, như tịnh tín nam nữ đẳng
(những kẻ nam người nữ có lòng tin thanh tịnh)
tử → con trai, con cái nói chung, như tích vi kỳ tử (trước đây là
con của người ấy), Thích tử (con của Phật, chỉ người xuất gia mang
họ Thích)
thốn → tấc (một phần mười thước), hoặc chỉ khoảng cách rất
ngắn, như thốn b ộb ấtdi (bước ngắn cũng chẳng dời đi)
tiểu → nhỏ bé, nhỏ nhặt, như tiểu oai nghi (oai nghi nhỏ
nhặt)
thi → từ dùng phiên âm chữ śīla trong Phạn ngữ thành thi-la (),
nghĩa là giới luật.
sơn → núi, như sơntăng (vị tăng tu ở núi, nghĩa là ẩn tu)
kỉ → tự thân, của mình, như vô ích ư kỷ (chẳng ích gì cho
chính mình), tôn tr ọngk ỷ linh (tôn trọng tánh linh giác của mình)
dĩ → đã qua, qua rồi, như Phật dĩ diệt độ (đức Phật đã diệt độ
rồi), ký dĩ xu ất gia (đã xuất gia rồi)
tài → vừa mới, như tài đắc thành nhân (vừa mới được thành
người)
bất → không, dùng để phủ định, như bất kính (không cung kính)
trung → ở giữa, khoảng giữa, như vụ lộ trung hành (đi giữa
đám hơi sương)
chi → tiếng nối các danh từ để chỉ nghĩa sở hữu, thuộc về, như
phụ mẫu chi di thể (thân thể của cha mẹ truyền lại cho), bất tranh
chiđ ức (cái đức không tranh chấp)
vân → nói rằng, như cổ vân (người xưa nói rằng), kinh vân
(trong kinh dạy rằng)
hỗ → lẫn nhau, qua lại thay thế cho nhau, như thế
sanh hỗ vi phụ mẫu (đời kiếp thay thế làm cha mẹ của
nhau)
ngũ → số năm, dùng trong số đếm, như nhị thập ngũ (hai mươi
lăm)
đán → cái giếng nước, như tỉnh đằng (dây bò miệng giếng)
quật t ỉnh (đào giếng)
cừu → cừu địch, kẻ oán thù, như tích nhật khấu cừu (ngày
trước là giặc cướp oán thù)
kim → bây giờ, lúc này, như kim sanh (trong đời này), kim nhật
(ngày nay)
nhưng → như cũ, không thay đổi, như nhưng cựu si mê (vẫn si
mê như cũ), nội, nạp → bên trong, như nội trược ngoại thanh (bên trong
nhơ nhớp, bên ngoài [ra vẻ] trong sạch), bên trong, trong lòng, như
quốc nội (trong nước), nội cần khắc niệm chi công (trong lòng lấy
việc chuyên cần khắc phục tâm tưởng làm công phu)
lục → số sáu, như giainhânl ụct ặc (đều do nơi sáu tên giặc)
phân → thành phần, phần trong tổng số, như thiểu phần tương
ưng (có ít phần phù hợp theo)
thiết → khẩn thiết, quyết lòng, như thiết tu tử tế dụng tâm
(khẩn thiết dụng tâm tinh tế)
vật → không nên, đừng, như vật úy nan nhi thối khiếp (đừng
sợ khó khăn mà thối thất)
hóa → hóa độ, giáo hóa, như thượng cầu Phật đạo, hạ hóa
chúng sanh (trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh)
thăng → lên cao, tiến lên, như bất cầu thăng tiến (không cầu
được tiến bộ)
cập → đến, tới, như do biểu cập lý (từ ngoài đến trong), cập
chí (cho đến khi)
hữu → bạn bè, như thành ngã giả bằng hữu (giúp ta nên
người là bằng hữu)
thiên → trời, như nhân thiêntam h ữu (ba cõi trời người)
phu → 1. người đàn ông, như trượng phu (đấng nam nhi); 2. phù
→ từ dẫn nhập vào câu, như phù xuất gia giả (phàm là người xuất
gia)
thiểu → ít, thiếu, như thiểu phần (có ít phần)
vưu → càng hơn, hơn nữa, như giải đãi vưu khổ (lười nhác
càng khổ hơn), vưu vith ốngtích (càng đau xót đáng tiếc hơn)
ảo → hư huyễn, không thật, như huyễn thân mộng trạch (thân
hư huyễn trong căn nhà mộng)
dẫn → dắt dẫn, đưa đi, như tiếp d ẫn (đón tiếp dẫn đường đi)
tâm → tâm tư, tình cảm, tấm lòng... như sân tâm (lòng nóng
giận)
hộ → hộ, căn nhà, như bỉ tắc tất môn bồng hộ (người
khác thì nhà tranh vách lá)
thủ → tay, như củng th ủ (khoanh tay)
văn → văn chương, bài văn, như thục lãm tư văn (đọc kỹ bài
văn này)
phương → 1. phương hướng, như thập phương (mười phương),
2. trợ từ, mới... như phương nãi tương khuyến (mới khuyên bảo lẫn
nhau) 3. phương thế, cách thức, như phương tiện (phương cách thuận
tiện)
nhật → ngày, như bất khả đẳng nhàn quá nhật (không thể
nhàn nhã để ngày trôi qua)
viết → nói rằng, viết rằng như Khổng tử viết (Khổng tử nói
rằng), nãiv ị minhvi ết (nên có bài tụng rằng)
nguyệt → tháng, như tuế nguyệt (năm tháng), nhật vãng
nguyệt lai (ngày qua tháng lại, ý nói thời gian nhanh chóng trôi qua)
chỉ → dừng lại, như chỉ tuy ệt (dừng lại dứt sạch)
tỉ → trong danh từ tỳ-kheo, phiên âm tiếng Phạn là bhikṣu, để chỉ
người xuất gia đã thọ giới Cụ túc, có người đọc là tỉ-khâu hay tỉ-khưu.
mao → lông, như phi mao đái giác (mang lông đội sừng, chỉ các
loài cầm thú)
thủy → nước, thức uống, như nhất xan nhất thủy (miếng
cơm ngụm nước)
hỏa → lửa, như mãnh h ỏathành trung (trong thành lửa dữ)
phụ → cha, như phụ m ẫu (cha mẹ)
phiến → chốc lát, giây lát, như phiến khắc (trong chốc lát,
thoáng chốc)
vương → vua, đứng đầu, như chư thiện trung vương (đứng
đầu trong các pháp lành)
thả → hãy (làm điều gì), như thả ư giáo pháp lưu tâm (hãy
để tâm vào giáo pháp)
thế → đời, kiếp, như dịth ế (đời khác), trần th ế (cõi trần)
khâu → trong danh từ tỳ-kheo, đúng ra chữ này đọc là khâu hay
khưu trong các nghĩa khác, nhưng do thói quen ta vẫn đọc chữ này là kheo
trong cụm từ tỳ-kheo để chỉ người xuất gia đã thọ giới Cụ túc (phiên âm
theo tiếng Phạn là bhikṣu). Vì thế có một số người cũng đọc danh từ này
là tỉ-khâu hay tỉ-khưu.
chủ → người làm chủ, đứng đầu, như chủ nhân (người chủ),
chủ t ể (chúa tể, đứng đầu)
hồ → trợ từ dùng cuối câu hỏi, như vong thất thượng nhĩ,
huống v ịphát h ồ? (quên mất còn như vậy, huống là chưa phát tâm?)
tử → kỹ càng, thận trọng, như tửt ế (kỹ lưỡng tinh tế)
tha → (người hay vật) khác động tha tâm niệm (xao động tâm
niệm người khác), tha nhân (người khác)
nhận → đơn vị đo lường, bằng 8 thước xưa, như vạn nhận
chi s ơn (núi cao muôn nhận, nghĩa là rất cao)
đại → thay thế, đại diện, như dục đại ngã khổ (muốn thay ta
chịu khổ)
linh → làm cho, khiến cho, như kim linh tương tục (nay khiến
cho tiếp tục)
dĩ → lấy đó, dùng đó, như thường dĩ như thử (thường lấy như
thế), dĩđ ộctr ị đ ộc (lấy độc trị độc)
xuất → ra khỏi, hiện ra, sinh ra, như xuất gia (ra khỏi gia đình,
nghĩa là đi tu), xuấtth ửm ộtb ỉ (sinh ra chỗ này, mất đi chỗ kia)
công → công sức, công phu, như khắc niệm chi công (công phu
khắc chế tâm ý)
gia → nhiều hơn, thêm, như bất gia ái trọng (chẳng thêm phần
thương yêu quý trọng)
bao → bao bọc, bao gói, như thập nguyệt bao tàng (mười
tháng bao bọc chất chứa)
khứ → 1. trừ bỏ đi, như khứ kỳ kinh cức (trừ bỏ hết những gai
góc ấy) 2. đi, đến, như khứ tựu (đi khỏi, tựu đến) 3. đã qua, cách xa
như khứ niên (năm ngoái) khứ thánh thời diêu (cách thời đức Phật
đã lâu xa)
cổ → chuyện xưa, người xưa, như kê cổ (xét các chuyện xưa),
cổ vân (người xưa nói rằng)
thao → lạm được, dùng với ý khiêm tốn, tự cho mình là không
xứng đáng, như thao tại tri kỷ (lạm được làm người tri kỷ), thao
bồi (lạm được nương theo)
chỉ → chỉ... mà thôi, được dùng để nhấn mạnh, như chỉ hội
thuyết bất hội tố (chỉ biết nói mà không biết làm), chỉ vi cửu trệ
bất thông (chỉ là ngăn ngại lâu ngày không thông suốt)
khiếu → kêu, gọi, như nhẫn thính khiếu hào chi thảm (chịu
đựng nghe tiếng kêu khóc thảm thiết)
khả → có thể, có khả năng, như dung mạo khả quan (hình dung
dáng vẻ có thể xem được, nghĩa là đẹp đẽ dễ coi)
tứ → số bốn, như tứ đại (bốn chất quan trọng)
ngoại → bên ngoài, như ngoại hoằng bất tranh chi đức (bên
ngoài mở rộng cái đức không tranh chấp)
thất → mất đi, như nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục
(một khi mất đi thân người thì vạn kiếp không được lại)
ni → chữ dùng phiên âm trong nhiều danh từ, như Tỳ-ni (phiên
âm tiếng Phạn là Vinaya, tức là Luật tạng), Lam-tỳ-ni (phiên âm tiếng
Phạn là Lumbinī, tên vườn Lam-tỳ-ni)
xảo → vừa mới, như xảo phongxuychi (gió vừa mới thổi qua)
bố → ban rải, cho ra, như bốthí (cho ra khắp nơi)
ấu → tuổi thơ, còn nhỏ, như ấu ly phụ mẫu (xa lìa cha mẹ khi
còn nhỏ)
phất → không, từ phủ định, như nhân độn phất ma (vì cùn lụt
mà không mài)
hoằng → rộng, mở rộng, như ngoại hoằng bất tranh chi đức
(bên ngoài mở rộng cái đức không tranh chấp)
tất → chắc chắn, chắc là, như tất bất tương trám (chắc chắn
là không lừa dối nhau)
vị → chưa, không, như vị miễn hình lụy (chưa thoát khỏi được
sự trói buộc thân hình)
mạt → cuối hết, như mạt thế (đời cuối), mạt pháp (pháp đã
gần dứt, tận cùng)
bản → gốc, nguồn, như căn bản vô minh (gốc rễ ở nơi vô
minh)
chính, chánh → chính yếu, chân chánh, như đốn ngộ chánh
nhân (tức thời hiểu rõ được nguyên nhân chính yếu, tức là chỗ cốt yếu)
mẫu → mẹ, như phụ mẫu (cha mẹ)
dân → dân, người trong cõi nước nói chung, như nhân dân bị
hóa ư Đôngph ương (người dân được hóa độ ở cõi Đông)
băng → băng, nước đông lại thành khối, như kết băng (đông lại
thành băng), băng tuy ết (băng và tuyết)
vĩnh → mãi, lâu dài, như an lạc vĩnh kiếp (yên vui mãi)
phạm → phạm vào, như tácph ạm (làm việc phạm vào)
huyền → nhiệm mầu, huyền diệu, như huyền đạo vô nhân
khế ng ộ (đạo nhiệm mầu không do đâu để hợp ý hiểu ra)
ngõa → viên ngói, như ngõa lịch (ngói sỏi, chỉ những thứ không
có giá trị)
cam → vị ngọt, như cam chỉ (món ngon ngọt)
sinh, sanh → sống, đời sống, như nhất sanh không quá (một
đời luống qua vô ích, vô bổ)
dụng → dùng, sử dụng, như dụng báo tứ ân (dùng để báo đáp
bốn ơn)
do → do nơi, nhờ nơi, như bất do biệt nhân (không do nơi
người khác)
bạch → trắng, bạc trắng, như táp nhiên bạch thủ (thoắt đã bạc
trắng mái đầu)
bì → da, như bì nh ục (da thịt)
mục → con mắt, như nhĩ mục (tai mắt)
lập → thiết lập, lập thành, như đồng lập thử nguyện (cùng
nhau lập nguyện này)
giao → trao cho, mang đến cho, như, hiểu tịch tạo ác, tức
tựgiao báo (sớm tối làm việc ác, tức tự mang lấy quả báo)
diệc → cũng vậy, lại cũng, như diệc nãi thù báo tứ ân (lại
cũng báo đáp được bốn ơn),, bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ
(người kia đã là đấng nam nhi, ta đây cũng như vậy)
nhậm → tiếp nhận, chấp nhận, như nhậm chức (nhận chức),
nhậm tha pháp tánh châul ưu (đón nhận sự xoay chuyển của các pháp)
phục → cúi xuống, như phục vọng (cúi mong)
hưu → thôi, dừng nghỉ, như đam vị bất hưu (mê đắm mùi vị
không thôi)
tiên → trước, trước kia, như Phật tiên chế luật (trước kia Phật
chế định ra giới luật), tiêntri (biết trước)
quang → ánh sáng, dùng theo nghĩa bóng để chỉ thời gian, như
thời quang di ệcb ất h ư khí (thời gian cũng không bỏ phí)
toàn → hoàn toàn, trọn vẹn, như tập liễm toàn vô (hoàn toàn
không có sự câu thúc, chế phục)
cộng → hợp, cọng lại, như giả chúng duyên nhi cộng thành
(các nhân duyên giả hợp mà thành)
tái → trở lại, lần nữa, như pháp môn tái xiển (cửa pháp lại mở
ra, nghĩa là các pháp môn lại được xiển dương, rộng truyền)
băng → băng giá, nước đông lại vì lạnh, như băng đống (băng
giá đông lại)
quyết → dứt khoát, kiên quyết, như quyết tâm (lòng kiên quyết
làm điều gì), quyết chí (dốc lòng), thường viết là
hình → hình phạt, như tam giới hình phạt (hình phạt trong ba
cõi)
hợp → phù hợp, hợp lẽ, như pháp nhĩ hợp cúng (theo pháp cúng
dường như thế là hợp)
cát → dùng trong phiên âm chữ duṣkṛta ( - cát-la), tức đột-cát-la
(), một nhóm tội trong giới luật, dịch nghĩa là tội khinh cấu.
đồng → cùng nhau, như đồng sanh (cùng sanh ra)
danh → tên, gọi tên, như tùng tâm biến khởi tất thị giả
danh (do nơi tâm biến hóa mà ra tất cả đều là tên gọi không thật)
thổ → nhả ra, như ân kh ổ th ổcam (nuốt đắng nhả ngọt)
hướng → nghiêng về, hướng về, như nhất hướng tình tồn
thôtháo (chỉ nghiêng về giữ lấy những thói tật thô thiển)
hồi → trở lại, quay lại, như vãnh ồi (làm cho trở lại như trước)
nhân → nguyên nhân, do nơi, như lạc thị khổ nhân (vui là
nguyên nhân của khổ)
tại → ở tại, như ngọa t ật t ại sàng (bệnh nằm tại giường)
địa → 1. đất, như địa tuy hậu bất năng tải ngã (đất tuy dày
không chở được ta); 2. nơi chốn, vị trí, như khai phát hữu địa (có chỗ
khai mở)
đa → nhiều, như niên vãn đa chư quá cữu (tuổi già nhiều tội
lỗi)
hảo → tốt đẹp, như tuy hữu hảo tâm (tuy có lòng tốt), 2. háo →
ưa thích, ham thích, như háo danh (ham thích danh tiếng)
như → như là, giống như, như nhân phụ trái (giống như
người mắc nợ)
tồn → còn, tồn tại, như triêu tồn tịch vong (sớm còn tối mất)
trạch → cái nhà, như huyễn thân mộng trạch (thân hư huyễn
trong căn nhà mộng)
vũ → nhà ở, như quảngvũ nhànđình (nhà to sân rộng)
an → yên ổn, làm cho yên ổn, như an quốc (làm cho đất nước
được yên ổn)
niên → năm, dùng chỉ tuổi tác, như niên cao lạp trưởng (lớn
tuổi, nhiều tuổi hạ)
thốn → suy nghĩ kỹ, ngẫm nghĩ, như hiểu tịch tư thổn (sớm tối
lo nghĩ)
thành → thành tựu, làm thành, như xúc đồ thành trệ (đường đi
đến thành ra ngưng trệ)
chỉ → ngon, như chỉt ửu (rượu ngon), cam ch ỉ (món ngon ngọt)
tảo → sớm, như tảo phóng minh sư (sớm tìm cầu bậc thầy
sáng suốt)
hữu → có, như đạo s ư h ữu s ắc (đấng đạo sư có lời dạy)
hủ → mục nát, vô dụng, như lão hủ (già yếu chẳng làm được gì
nữa)
thứ → thứ, lượt, dùng trong tháoth ứ (vội vàng, gấp rút)
thử → thế, vậy, ấy, đó, như nhược bất như thử (nếu không
được như vậy), dĩ thử phù trì (lấy đó làm chỗ gìn giữ nương theo)
thử tôngnan đ ắc (tông ấy khó được)
tử → chết, như thị sanh tử như oán gia (xem sống chết như
kẻ oán thù)
ô → nhơ nhớp, bẩn, như nhiễm ô (nhiễm bẩn, bị nhơ nhớp)
bá, bách → một trăm, như bách tánh (trăm họ), bách kiếp
(trăm kiếp)
mễ → gạo, như lạp m ễ (hạt gạo)
lão → già, người già, như tùng sanh chí lão (sanh ra cho đến lúc
già)
nhi → liên từ, mà..., như giả chúng duyên nhi cộng thành (các
nhân duyên giả hợp mà thành), bất ưng tự khinh nhi thối khuất
(không nên tự coi thường mình mà thối lui)
nhĩ → lỗ tai, như nhĩ m ục (tai mắt)
nhục → thịt, như cốt nh ụcđô mi (xương thịt đều nát nhừ)
tự → tự mình, như tự khinh (tự coi thường mình), quả báo
hoànt ựth ọ (quả báo trở lại tự mình nhận lấy)
chí → đến, đến khi, như tùng sanh chí lão (sanh ra cho đến khi
già), cập chíniên cao (cho đến khi tuổi tác đã cao)
chu → thuyền, như dĩ Tịnh độ vi chu hàng (dùng Tịnh độ làm
thuyền bè)
sắc → hình sắc, như văn thanh kiến sắc (nghe âm thanh, thấy
hình sắc)
huyết → máu, như khấphuy ết (khóc chảy máu mắt)
hành → đi, làm, như viễn hành (đi xa), hành trì (giữ làm theo)
ngônhànhhoangs ơ (lời nói việc làm đều phóng túng lơ đễnh)
y → cái áo, y phục, như thấp y (ướt áo)
tây → hướng tây, phương tây, như Tây phương quyết định
vãng sanh (quyết định vãng sanh về Tây phương)
bạn → chọn lựa, tuyển chọn, như trạch b ạn (chọn bạn)
thân → trình bày, nói ra, như thân oan (nói rõ nỗi oan khúc),
lược thân (lược nói ra)
tự, tợ → giống như, tương tợ, như tự phòng ốc nhi tần
thiênt ỷ (giống như phòng ốc nhiều lần thay đổi)
đãn → chỉ cần, như đãn tình bất phụ vật (chỉ cần lòng không
nương theo vật)
trụ → ở tại, cư ngụ, như hành trụ tịch mặc (đi ở đều vắng
lặng)
hà → sao, thế nào, chỗ nào... (dùng trong các câu hỏi), như hà nãi
(sao lại như vậy), vịtri hà vãng (chưa biết đến nơi đâu)
phật → đức Phật, những gì liên quan đến đức Phật, như Phật
tánh (tánh Phật), Phật pháp (giáo pháp của Phật)
tác → làm, thực hiện, tạo ra, như tácnghi ệp (tạo ra nghiệp)
khắc → khắc phục, khắc chế, như khắcni ệm (khắc phục tâm ý)
miễn → miễn trừ, thoát khỏi, như nhân thiên tam hữu ưng
vị mi ễn chi (ba cõi trời người chưa thoát khỏi được)
huống → huống chi, liên từ để nhấn mạnh, như huống nãi
đường tăng tướng (huống chi đường mang hình tướng một
vị tăng)
biệt → 1. phân biệt, thấy rõ sự khác nhau, như khởi năng chân
biệt (làm sao có thể xem xét phân biệt rõ) 2. riêng, khác, như bất do
biệt nhân (chẳng do nơi người khác), biệt nghiệp (nghiệp quả riêng
của mỗi người)
lợi → lợi, điều lợi, như thí lợi nùng hậu (mang cho các món lợi
to lớn)
nỗ → cố gắng, như nỗl ực (gắng sức)
kiếp → một đời sống, thời gian một kiếp sống, như vãng kiếp
(kiếp trước)
cù → nhọc nhằn, khó nhọc, như ai phụ mẫu sanh ngã
cùlao (thương thay cha mẹ sinh ra ta biết bao khó nhọc)
tức → tức là, như thúch ốtt ứcvô (thoáng chốc đã là không)
thôn → nuốt vào, như thôn chi tắc can trường tận lạn
(nuốt vào thì ruột gan chín bấy)
xuy → thổi, như xảo phongxuy chi (gió vừa thổi qua)
ngô → ta, của ta, như ngôm ẫu (mẹ của ta)
cáo → nói với, bảo cho biết, như ai cáo (đau xót có lời bảo cho
biết)
toạ → ngồi, như khởi t ọa (đứng ngồi)
giáp → cầm giữ, kèm kẹp, dùng trong giáp tạp (bị xen vào hỗn
tạp, bị lẫn lộn vào)
diệu → hay, khéo, tuyệt diệu, như kỳdi ệu (tuyệt diệu lạ lùng)
hoàn → trọn vẹn, đầy đủ, như cử thể vô hoàn phu (khắp thân
không mảnh da nào còn nguyên vẹn)
hình → hình dáng, như hình trực ảnh đoan (hình ngay bóng
thẳng)
nhẫn → nhẫn chịu, chịu đựng, như nan nhẫn năng nhẫn (nhẫn
chịu được điều khó chịu)
chí → ý chí, như quyết chí (dốc chí thực hiện điều gì)
vong → quên, không còn nhớ, như vong duyên (quên mất các
duyên)
chung → tâm ý tán loạn thất thường, như khởi tọa chung chư
(đứng ngồi hoảng loạn)
ngã → ta, tôi, tiếng tự xưng, như ngãdi ệcnhĩ (ta cũng vậy)
giới → điều ngăn cấm không làm, như trai giới (giữ giới chay
lạt)
phù → nương, dựa, như phùtrì (nương giữ nhau)
ức → liên từ, nhưng, mà..., dùng trong cụm từ ức diệc (không
những... mà còn), như, nhất sanh không quá, ức diệc lai nghiệp
vô tì (không những một đời trôi qua chẳng được gì, mà sự nghiệp sau này
cũng không ích lợi)
canh, cánh → càng thêm, lại thêm, như cánh bất khả ngôn
(càng không thể nói)
thúc → bó buộc, ràng buộc lại, như thúc liễm sơ tâm (gom
buộc chế phục tâm ban đầu)
bộ → bước đi, như thốn bộ bất di (bước ngắn cũng chẳng dời
đi)
mỗi → mỗi khi, mỗi lần, như mỗi nhất tư cập (mỗi khi nghĩ
đến)
cầu → cầu mong, muốn được, như bất cầu thăng tiến (không
cầu được tiến bộ)
quyết → chắc chắn, nhất định, quyết ý, như quyết định vãng
sanh (nhất định phải vãng sanh)
trầm → chìm đắm, mê đắm, như thăng trầm bì cực (nổi chìm
mệt mỏi cực nhọc)
một → chết, biến mất, như xuất một (ẩn hiện), thời quang
yểm một (thời gian trôi qua mất), xuất thử một bỉ (sinh ra chỗ này,
chết đi chỗ kia)
sa → dùng trong từ phiên âm, như sa-di, sa-môn
lao → nhà lao, chỗ giam nhốt, như tam giới như lao ngục (ba
cõi như tù ngục giam nhốt)
nam → con trai, nam giới, như tịnh tín nam nữ (kẻ nam người
nữ có lòng tin trong sạch)
hĩ → trợ từ cuối câu, vậy, thế... như bất tất ngôn hĩ (không cần
phải nói vậy)
cứu → nghiên cứu, cứu xét, như bất cứu tự tâm (không cứu xét
tự tâm mình)
tiếu → giống như, như bất tiếu (không được giống như người đi
trước, không học theo được những điều tốt đẹp), dùng chỉ những người
hư hỏng, kém cỏi
can → lá gan trong nội tạng, như can tr ường (gan ruột)
dục → nuôi dưỡng, làm cho tăng trưởng, như dục đức (nuôi
dưỡng đức hạnh)
lương → tốt, hiền, như thân phụ lương bằng (gần gũi nương
theo bạn tốt)
kiến → thấy biết, nhìn thấy, như tư tri kiến (chỗ thấy
biết như thế)
giác → tranh hơn thua nhau, như khẩu giác (cãi cọ), quai giác
(hơn thua nghịch nhau)
ngôn → nói, lời nói, như tiện ngôn ngã thị sơn tăng (liền nói
rằng ta là thầy tăng ở núi)
thỉ → con lợn, như khiên th ỉt ựuđ ồ (dắt lợn vào lò mổ)
bối → tên một loại cây thuở xưa dùng lá để chép kinh, nên bối
diệp (lá bối) được dùng để chỉ kinh điển.
túc → đầy đủ, như tam thường bất túc (ba việc thường không
đầy đủ, nghĩa là chuyện ăn, mặc và ngủ nghỉ đều không đến mức đầy
đủ)
thân → thân thể, như nhânthân (thân người)
tân → vị cay, như tânkh ổ (cay đắng)
tấn → nhanh chóng, như tấn t ốc (hết sức nhanh chóng)
na → ấy, đó, kia..., như giá biên na biên (bên này bên kia)
bang → nước, quốc gia, như trị bang (trị nước)
tà → tà vạy, không chính đáng, như khứ tà (trừ bỏ điều tà vạy)
tịnh → thảy đều, như tịnh phi kỷ hữu (thảy đều không phải
của ta)
quai → trái ngược, nghịch nhau, như quai giác (hơn thua nghịch
nhau), nội ngo ại quai gi ả (trong ngoài trái nghịch nhau)
nhũ → vú, cho bú bằng vú, như nhũb ộ (bú mớm)
sự → việc, chuyện, vấn đề, như xúc sự diện tường (gặp việc
quay mặt vào vách, nghĩa là không biết cách đối phó, bế tắc)
ta → một ít, tí chút, như bất tồn ta quỹ tắc (không giữ
được chút ít phép tắc nào)
sử → khiến cho, làm cho..., như giả sử (giá như là..., nghĩa là
việc chưa xảy ra nhưng cứ giả định cho là như vậy)
lai → sắp đến, tương lai, như lai xứ (nơi sẽ đến), lai sanh
(đời sau)
cung → cung cấp, chu cấp cho, như bất cung cam chỉ (không
chu cấp cho món ăn ngon ngọt)
y → y theo, theo giống như, như y tiền (y như trước)
lưỡng → một cặp, đôi, hai cái, như lưỡng đồ ký thất (hai
đường đều mất cả)
kì → ấy, đó... tiếng trợ từ, như, kỳ nhân, kỳ sự (người ấy,
chuyện ấy), khứkỳkinhc ức (dẹp bỏ những gai góc ấy)
cụ → đầy đủ, như cụ hữu vô lượng thần thông (có đủ vô
lượng thần thông)
điển → kinh điển, như bất thiệp điển chương (không liên quan
gì đến điều chương kinh điển)
sơ → ban đầu, mới bắt đầu, như sơ tâm (lúc phát tâm ban đầu)
đáo → đến, tới, như đồng đáo đạo trường (cùng đến nơi đạo
trường)
chế → đặt, định ra, như Phật tiên chế luật (Phật trước kia chế
định ra giới luật)
sát → dùng trong cụm từ sát-na để phiên âm tiếng Phạn là kṣa ‐
ṇa, nghĩa là khoảng thời gian rất ngắn, như nhất sát-na gian (trong
thời gian một sát-na)
khắc → khoảnh khắc, thời gian rất ngắn, như phiến khắc (thoắt
chốc)
kiếp → kiếp, đời người, như nhất thất nhân thân vạn kiếp
bất ph ục (một khi mất thân người, vạn kiếp không được lại)
tốt → hết, cuối, như tốt tuế (hết năm)
thủ → cầm nắm, lấy, như khứ thủ (bỏ và lấy, nghĩa là chọn lựa)
thụ → nhận lấy, nhận lãnh, như quả báo hoàn tự thụ (quả báo
trở lại tự nhận lấy)
châu → khắp vòng, như châul ưu (xoay vòng)
vị → mùi vị, như đam v ịb ấth ưu (đắm mê mùi vị không thôi)
hô → kêu gào, như hiệuhô (gào khóc)
mạng → mạng sống, như mạng bất khả diên (mạng sống
không thể kéo dài)
hòa → hòa hợp, hài hòa, như thanh hòa hưởng thuận (âm thanh
hài hòa thì tiếng vọng thuận theo)
cữu → tội lỗi, như đach ưquác ữu (nhiều sai lầm tội lỗi)
cố → đã rồi, vốn dĩ, như cố hữu (vốn đã có từ trước rồi),
lục thân c ố dĩ khí ly (sáu thân vốn đã dứt bỏ xa lìa rồi)
dạ → đêm, tối, như nhấtd ạ (một đêm)
thuỷ → mới, vừa mới, như tùng tư thủy tri hối quá (từ đây
mới biết ăn năn hối lỗi)
ủy → uốn theo, dùng trong ủy m ị (yếu hèn, không tự chủ)
quý → cuối, như quý thế (đời cuối), đồng sanh tượng quý
(cùng sinh ra vào cuối đời tượng pháp)
cơ → bội bạc, phụ bạc, như cô ph ụ t ứ ân (phụ bạc cả bốn ơn)
tông → tông phái, phép tu, như thử tông nan đắc (phép tu này
khó được)
định → chắc chắn không thay đổi, như quyết định (quyết lòng
làm điều gì, không thay đổi)
uyển → quanh co, như uyển chuyển (khéo thay đổi cho thích
hợp)
nghi → nên, điều thích hợp, như thị cố nghi ưng đoạn sanh
tử l ưu (vì vậy nên cắt đứt dòng sanh tử)
thượng → vẫn còn, hãy còn, như ngã thượng trầm luân (ta hãy
còn chìm đắm luân lạc)
cư → ở, tại nơi, như lập nguyện cư tiên (việc lập nguyện phải
ở trước hết)
quật → chịu khuất phục, chịu kém hơn, như thối khuất (chịu
kém mà thối lui)
ngạn → bờ, như hà ngạn (bờ sông), ngạn thụ (cây đứng ven
bờ)
hạnh → may mắn, tốt đẹp, như hạnh vô ma chướng (may
mắn không gặp ma chướng)
diên → kéo dài ra, như mạng bất khả diên (mạng sống không
thể kéo dài ra)
bỉ → người kia, như, bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ (người
kia đã là đấng nam nhi, ta cũng vậy)
vãng → đến, như vãng lai tam giới chi tân (người khách đến
đi trong ba cõi)
thiểm → đáng xấu hổ, nhục nhã, như thiểm hiệu sa-môn (hổ
thẹn mang danh sa-môn)
trung → ngay thật, hết lòng vì ai, như trung ngôn nghịch nhĩ
(lời nói thẳng khó nghe)
niệm → 1. khoảng thời gian rất ngắn, như vô thường sát
quỷ niệm bất đình (con quỷ vô thường giết người không một chút
thời gian nào dừng nghỉ) 2. suy nghĩ, ý nghĩ, như động tha tâm niệm
(làm dao động tâm ý người khác)
hốt → đột nhiên, bỗng nhiên, như thúc hốt tức vô (thoắt chốc
đã là không)
phẫn → giận tức, như sân tâm phẫn khởi (lòng sân hận tức tối
nổi lên)
phạ → khiếp sợ, như phạb ố (hãi hùng khiếp sợ)
bố → sợ hãi, sợ sệt, như phạb ố (hãi hùng khiếp sợ)
di → vui vẻ, thoải mái, như di nhiên (vui vẻ tự nhiên)
tính → tính chất, tính tình, như pháp tính (tính chất của các
pháp)
khiếp → sợ, khiếp, như thối khiếp (sợ mà thối lui)
hoặc → hoặc là, như hoặc đại ngữ cao thanh (hoặc to tiếng
nặng lời)
phòng → căn phòng, căn nhà, như phòng ốc (nhà cửa nói chung)
sở → 1. nơi chốn, như ý dục đẳng siêu hà sở (ý muốn vượt
cao đến nơi nào) 2. đều, khắp, như sở tại giai thị dã (đâu cũng
vậy cả), nhân sở khinh khi (người ta đều khinh khi) 3. trợ từ, điều
thuộc về cái gì, như nghiệp quả sở khiên (nghiệp quả dắt dẫn), sở
tác (điều đã làm)
thừa → vâng theo, nhận lấy, như cung thừa tế tự (cung kính
nhận lãnh việc cúng kỵ)
phi → mặc áo, khoác áo, như phi y hạ sàng (khoác áo bước
xuống giường), phitruy (khoác áo người tu hành)
bạt → đánh thắng, đánh bạt đi, như bạt nhị thập thành (đánh
chiếm được 20 thành), dùng trong cụm từ bạt tế tức là nói tắt của
bạt kh ổt ế n ạn (đánh bạt khổ não, cứu giúp nạn tai)
ư → 1. với, đối với, như thiệp ư điển chương (liên quan với
kinh điển) 2. nơi, chỗ... như thanh ư nhĩ mục (trong sạch nơi tai
mắt), thả ưgiáo phápl ưu tâm (nên để tâm vào nơi giáo pháp)
côn → hàng con cháu nối dõi, như hậu côn (con cháu về đời sau)
minh → ánh sáng, sự sáng suốt, như vô minh (không sáng, nghĩa
là ngu tối)
hôn → tối tăm, không biết, như hôn mê (mê muội tối tăm không
biết gì)
dị → dễ, như dị ủng (dễ bị ngăn lấp)
tích → xưa kia, trước đây như tíchniên (năm xưa, năm trước)
bằng → bạn bè, như lươngb ằng (bạn hiền, bạn tốt)
phục → y phục, như pháp ph ục (y phục của người tu)
đông → phương đông, hướng đông, như đông tây mạc biện
(hướng đông tây không phân biệt được)
tùng → cây tùng, như ỷ tùng chi cát (dây leo dựa theo cây tùng)
uổng → uổng phí, không đáng, như uổng phi pháp phục (uổng
mặc y phục người tu hành, nghĩa là không xứng đáng)
quả → kết quả, thành quả, như nhân quả lịch nhiên (nhân quả
rõ ràng như vậy)
một → chết mất, như một hậu trầm luân (sau khi chết phải
chìm đắm)
trị → cai trị, như trịbang (cai trị đất nước)
triêm → thấm nhuần, như giới phẩm triêm thân (thân được
thấm nhuần giới hạnh)
huống → huống chi, như huống vị phát hồ (huống chi là chưa
phát tâm)
bạc → dùng trong cụm từ thấu bạc với nghĩa là hiểu thấu, như
tương tâm thấu bạc (dùng tâm để hiểu thấu). Xem thêm ở chữ thấu -
Thuyền ghé vào bến cũng gọi là bạc, vì thế có cụm từ phiêu bạc chỉ
việc trôi nổi bất định qua nhiều nơi, có từ điển tiếng Việt viết sai cụm
từ Hán-Việt này là phiêub ạt.
pháp → 1. các pháp, sự việc, như nội ngoại chư pháp tận
tri bất thật (các pháp trong ngoài đều biết rõ là không thật) 2. giáo pháp,
những gì do Phật truyền dạy, như Phật pháp (giáo pháp của Phật),
thả ưgiáo pháp l ưu tâm (nên để tâm vào nơi giáo pháp)
ba → con sóng nhỏ, sóng nước, như tứ hải ba đào (sóng nước
trong bốn biển)
khấp → khóc, như khấphuy ết (khóc chảy máu mắt)
nê → bùn lầy, như mộtt ại ứnê (chìm trong bùn đọng)
mẫn → hết, dứt hết, như tri kiến bất mẫn (chỗ thấy biết
không dứt bỏ hết)
tranh → tranh đấu, tranh đua, như cạnh tranh (ganh đua với nhau
để giành phần hơn)
sàng → giường nằm, như ngọa tật tại sàng (bệnh nằm trên
giường)
vật → sự vật, như đãn tình bất ngại vật (chỉ cần trong lòng
không ngăn ngại nơi sự vật)
trạng → hình trạng, hình dáng, như trạng tợ thanh liên nhị
kết (hình dạng như hoa sen xanh bó nhụy)
hiệp → thân cận, gần gũi ai, như bất bàng hiệp (không tùy tiện
thân gần người khác), hiệpt ập ác gi ả (gần gũi quen theo kẻ ác)
trực → ngay thẳng, như hình trực ảnh đoan (hình ngay thì bóng
thẳng)
tri → biết, hiểu rõ, như cố tri tam giới hình phạt oanh
bán sát nhân (vậy nên biết rằng hình phạt trong ba cõi luôn bám theo mà
giết hại người)
xã → hội, nhóm những người cùng một khuynh hướng, như liên
xã (hội niệm Phật)
tự → thờ cúng, như tế t ự (cúng tế tổ tiên, người đã khuất)
không → không có gì, không được gì, như mạc không quá nhật
(đừng để ngày qua không được gì)
giả → 1. người, kẻ, như xuất gia giả (người xuất gia), ác giả
(kẻ ác) 2. trợ từ, ấy, đó... như, sanh ngã giả phụ mẫu, thành
ngã giả bằng hữu (sinh ra ta ấy là cha mẹ, làm cho ta nên người ấy là bè
bạn) 3. trợ từ, để đặt câu hỏi, như? Khởi bất minh tâm giả tai?
(Lại không ghi khắc vào trong lòng hay sao?)
khẳng → bằng lòng, chịu làm, như bất khẳng thân phụ lương
bằng (không chịu gần gũi thân cận bạn hiền), đãn biện khẳng tâm
(chỉ cần chịu quyết tâm)
ngọa → nằm, như ngọa t ật t ại sàng (bệnh nằm tại giường)
du → chốc lát, dùng trong tu du (khoảng thời gian rất ngắn,
thoắt chốc)
xá → dùng trong từ phiên âm chữ śarīra xá-lợi, cũng gọi là ngọc
xá-lợi, chỉ phần vật chất được lưu lại sau khi hỏa táng di thể một vị
Phật, cao tăng.
cận → gần, như thân c ậnthi ện h ữu (thân gần người bạn hiền)
phản → trở lại, ngược lại, như phản tỉnh (tỉnh lại, nghĩa là biết
xem lại mình mà thay đổi những điều xấu ác)
kim → vàng, dùng trong các kết hợp kim thân (chỉ thân Phật),
kim c ương (kim cương)
trường → dài, như trường c ửu (lâu dài)
môn → 1. cửa, như truy môn (cửa nhà chùa) 2. cách thức, phương
pháp, như phương tiện chi môn (pháp phương tiện) 3. tiếng dùng để
phiên âm, như bà-la-môn (phiên âm tiếng Phạn là brāhmana)
đà → dùng trong phiên âm danh hiệu Phật Amitābha Di-đà, hoặc
A-di-đà
phụ → nương cậy, dựa vào, như thân phụ thiện giả (gần gũi
nương cậy người hiền)
thanh → màu xanh, như thanhliên (hoa sen xanh)
phi → không, dùng để phủ định, như phi luận kiếp số (không
tính được số kiếp)
lữ → bạn, người cùng chung với nhau việc gì, như pháp lữ (bạn
đồng tu)
tiện → nhân đó, liền đó, như tiện ngôn ngã thị tỳ-kheo (liền
nói rằng ta đây là tỳ-kheo), tiện trách hậu sanh vô lễ (liền trách
những kẻ sinh sau là vô lễ)
nga → chốc lát, thoắt chốc, như nga yên nhi thiên, nga
yên nhi nhân (thoắt chốc sinh cõi trời, thoắt chốc làm người)
tục → tầm thường, dung tục, thế tục, như tâm hình dị tục (tâm
tánh và hình dáng khác với kẻ thế tục)
bảo → giữ lấy, như bảo trì (giữ gìn không để mất), bảo vệ
(giữ cho an toàn)
tín → tin, tin cậy, như bất tín (không tin), tín thí (người cúng
dường tài vật vì có lòng tin)
thế → cắt, cạo, như thế phát (cắt tóc, xuống tóc), thế mao
(cạo lông)
tắc → phép tắc, như quỹ t ắc oainghi (oai nghi phép tắc)
tiền → trước, phía trước, như tiền lộ mang (đường phía
trước mờ mịt)
dũng → mạnh mẽ, gan dạ, như dũng mãnh (mạnh mẽ gan dạ)
miễn → cố gắng, gắng sức, như nguyện dữ đại chúng cộng
miễn chi (nguyện cùng với đại chúng nỗ lực gắng sức)
bồ → dùng trong từ ghép bồ bặc (dáng bò lổm ngổm, nghĩa bóng
chỉ việc đi lại chậm chạp, khó khăn)
hậu → dày, lớn, như thí lợi nùng hậu (mang cho các món lợi to
lớn), địa tuy hậu bất năng tải ngã (đất tuy dày không chở được
ta)
tư → bàn luận, như, hậu học tư tuân vô ngôn tiếp dẫn (kẻ
hậu học thưa hỏi bàn bạc chẳng có lời nào để tiếp nhận dẫn dắt)
ân → nuốt vào, như ân khổ thổ cam (nuốt đắng nhả ngọt, ý nói
người mẹ nhường hết món ngon cho con mình)
ai → đau xót, bi ai, như ai tai thiết tâm (lòng thương xót biết
bao nhiêu)
phẩm → hạng, bậc, phẩm hàm, như giới phẩm (bậc đã thọ
giới)
tai → thán từ, biểu lộ cảm xúc, như thiện tai (lành thay), ai
taithi ết tâm (lòng thương xót biết bao nhiêu)
thành → thành, vùng dân cư có thành bao quanh, như thành trung
(ở trong thành)
khế → hợp ý, tương hợp nhau, như khế ng ộ (hợp ý mà hiểu ra )
nhân → nhân duyên, thân thuộc họ hàng, như liên nhân (nối liền
thành thân thuộc)
uy → làm cho người khác phải kính phục hoặc sợ hãi, như oai
nghi (dáng vẻ làm người ta kính phục)
ốc → nhà ở, như phòng ốc (nhà cửa nói chung)
thi → xác người chết, thi thể, như mãng hoành thi (thi
thể bừa bãi khắp nơi)
độ → 1. trôi qua, như độ thời (để thời gian trôi qua) 2. mức độ,
hạn độ, như xuất ngôn vô độ (lời nói ra không có sự hạn định, nghĩa
là tùy tiện, bừa bãi)
kiến → xây dựng, làm nên, như kiến l ập (xây dựng, tạo thành)
đãi → chờ đợi, như thời bất khả đãi (thời gian không thể chờ
đợi được)
tuần → theo, chiều theo, như mạc tuần nhân tình (đừng chiều
theo tình thường của con người)
luật → luật, điều phải tuân theo, cũng chỉ giới luật nhà Phật, như
Phậttiênch ếlu ật (Phật trước kia chế định ra giới luật)
hậu → sau, về sau, như hậuh ọc (người học sau)
tư → nghĩ, nhớ đến, như hiểu tịch tư thổn (sớm tối nghĩ nhớ,
suy ngẫm)
đãi → lười biếng, như giải đãi (chậm trễ biếng nhác)
cấp → gấp rút, khẩn cấp, như cấpv ụ (việc khẩn cấp)
oán → thù oán, oán hận, như oángia (kẻ oán thù)
thị → ỷ lại, nương dựa vào, như tương hà bằng thị (biết
nương dựa vào đâu)
hoảng → bỗng nhiên, bất chợt, dùng trong từ ghép hoảng hốt với
nghĩa là nhìn thấy không rõ ràng, đích xác, như, Hoảng hốt nhất
sanh tương hà bằng thị. (Mơ màng thoắt chốc qua hết một đời, biết
nương vào đâu làm chỗ dựa.)
hằng → thường, như hằng vi giới luật (thường phạm vào giới
luật)
hồi → tâm ý mê loạn, nghi ngờ không quyết, như tâm lý hồi
hoàng (trong lòng hoảng sợ, mê loạn nghi ngờ)
hận → oán hận, hờn giận, như tự hận tảo bất dự tu (tự giận
mình sớm không lo trước việc tu hành)
chửng → cứu vớt, như cầu chửng (cầu được cứu vớt)
trì → cầm nắm, giữ lấy, như thọ trì (nhận giữ lấy), dĩ thử
phùtrì (lấy đó mà giữ gìn nương dựa)
chỉ → chỉ đến, như chỉ quy (chỉ về, hướng về)
cố → cho nên, như cố kinh vân (cho nên trong kinh nói rằng),
cốtri (cho nên biết rằng)
thí → cho, bố thí, cúng dường cho chư tăng cũng gọi là thí, như
thíl ợi nùng h ậu (cúng dường các món lợi rất lớn)
kí → đã, xảy ra rồi, như lưỡng đồ ký thất (hai đường đều đã
mất, đã thất bại)
ánh → ánh sáng, soi chiếu, như ánh tế nhất thiết (soi sáng hết
những chỗ khuất lấp)
xuân → mùa xuân, như xuân s ương (sương mùa xuân)
thị → là, chính là, như tức thị lai sanh (tức là đời sau),
tiệnngôn ngãth ị tỳ-kheo (liền nói rằng ta đây là bậc tỳ-kheo)
khô → khô héo, khô kiệt, như Khởi khả nhân thiển vật
chủng, nhậm kỳ tự khô? (Lẽ nào do rễ cạn mà không trồng, để cây tự khô
chết?)
nhiễm → nhuốm vào, nhiễm vào, như nhiễm ô (nhuốm bẩn, làm
nhơ nhớp)
đãi → gần như, đến mức, như đãi bất nhẫn ngôn (đến nỗi
không nỡ nói ra)
tì → dùng trong cụm từ Tỳ-ni để phiên âm tiếng Phạn là Vinaya,
tức là Luật tạng.
đỗng → chiếu suốt, như đỗng đạt quang minh (sáng soi khắp
nơi)
tân → bến đò, nghĩa bóng chỉ những vị trí quan trọng, cần yếu, như
tân yếu (những người nắm giữ quyền chính), huyền tân (chỗ diệu
huyền quan yếu)
lưu → chảy, lưu chuyển, như châu lưu (xoay chuyển khắp nơi),
đoạnsanht ử l ưu (cắt đứt dòng sanh tử)
thậm → rất, lắm, như hạnh thậm (rất may mắn, rất tốt đẹp)
giới → thế giới, cõi nước, như tamgi ới (ba cõi)
úy → sợ, như úy nan (sợ khó khăn)
giai → đều, khắp, như giai nhân lục tặc (đều do sáu tên giặc),
giai th ịtúcth ựcthi ện căn (đều là nhờ gieo trồng căn lành từ trước)
tướng → 1. cùng nhau, qua lại với nhau, như tương ưng (hợp
nhau, tương ứng với nhau) 2. tướng → hình dạng, tướng mạo, như
tăng t ướng (hình tướng của vị tăng)
tỉnh → tự xét lại chỗ lỗi lầm, sai trái của mình, như phản tỉnh
(quay lại xét lỗi mình mà sửa đổi)
khán → xem, nhìn, như khán giả (người xem), khán tha
thượngl ưu (xem theo những bậc cao thượng khác)
căng → kiêu căng, cao ngạo, như, nhược bất quyên căng,
thành nan luân hoán (nếu như không dứt bỏ sự kiêu căng, thật khó mà
thay đổi được)
nghiên → xem xét cặn kẽ, nghiên cứu, như nghiên cơ tinh yếu
(xem xét cặn kẽ những chỗ cốt lõi tinh yếu)
xuyên → thủng lỗ, như hộc xuyên tước phi (dải lụa thủng lỗ
con chim bay qua)
hồng → màu hồng, như hồng ngẫu (ngó sen hồng)
da → trợ từ cuối câu hỏi, như Vân hà danh vi tà,
chánh, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên da? (Thế nào gọi là tà vạy, chính
đáng, chân thật, dối trá, rộng lớn, nhỏ hẹp, thiên lệch, viên mãn?)
bội → trái nghịch, xung khắc, như thường tương vi bội
(thường trái nghịch với nhau)
thai → bào thai, như hoài thai (mang thai)
trí → đến cùng, làm xong, như nhất sanh khả trí (một đời có
thể làm xong)
nhiễm → dùng trong từ ghép nhẫm nhiễm để nói về thời gian
thấm thoát trôi qua rất nhanh, như nhẫm nhiễm nhất sanh thù vô
sởích (thoắt chốc đã qua hết một đời không được chút ích lợi gì)
cẩu → ví bằng, ví như cẩu tri nhi bất hành (ví như biết mà
không làm)
nhược → nếu như, như nhược bất quyên căng (nếu như không
dứt bỏ sự kiêu căng)
khổ → đau khổ, như lạc thị khổ nhân (vui là nguyên nhân của
đau khổ)
yếu → cần thiết, thiết yếu, như viễn hành yếu giả lương
bằng (đi xa cần thiết phải có bạn hiền)
kế → lập kế, tính toán, mưu tính, như kế vô sở xuất (không
nghĩ ra được cách gì), Thục kế biệt ly chi lệ? (Ai tính lường được
hết nước mắt biệt ly?)
phụ → phụ bạc, phụ rẫy, như côph ụt ứân (phụ cả bốn ơn)
quỹ → phép tắc, như quỹ t ắc oai nghi (oai nghi phép tắc)
quân → quân đội, lực lượng, như ma quân (lực lượng của ma,
nghĩa là những điều xấu ác)
ca → dùng trong phiên âm danh hiệu Phật Śākya Thích-ca.
bách → thúc ép, buộc phải làm gì, như bức bách (dùng sức mạnh
thúc ép buộc phải làm gì)
thuật → soạn thuật, viết ra, như thuật vi sám-ma (soạn thành
sám pháp)
trọng → nặng, như trọng xứ thiên trụy (nghiêng rơi về phía
nặng)
lậu → xấu xí, kém cỏi, như bỉl ậu (thô lậu kém cỏi)
diện → mặt, quay mặt nhìn, như xúc sự diện tường (gặp việc
quay mặt vào tường, nghĩa là không biết cách ứng phó)
cách → dẹp, bỏ đi, như cách chức (bỏ không cho giữ chức vụ
hiện tại nữa), cách ch ư ổit ệ (dẹp bỏ những điều tồi tệ)
phong → gió, như xảo phong xuy chi (gió vừa thổi qua), 2. nền
nếp, phong khí, như thiệuk ế môn phong (nối tiếp nghiệp nhà)
phi → bay, như tước phi (chim sẻ bay)
thực → ăn, thức ăn, như yth ực (chuyện ăn mặc)
thủ → đầu, như bạch th ủ (bạc đầu)
thừa → chiếc xe, dùng theo nghĩa bóng để chỉ các pháp môn tu tập,
như xe chở người, nên Đại thừa là pháp cứu độ được nhiều người,
Tiểu thừa xem việc tự giải thoát là chính, không hướng đến độ thoát tất
cả chúng sanh, thượngth ừa chỉ cho pháp môn rốt ráo cao nhất.
tu → tu sửa, tu tập, như nỗ lực cần tu (chuyên cần nỗ lực tu
tập), tuthân (tu sửa tự thân cho tốt hơn)
câu → đều, đủ cả, cùng nhau, như tâm cảnh câu quyên (tâm
với cảnh đều cùng quên cả), phụ mẫu câu tồn (cha mẹ đều còn đủ
cả)
tỉ → khiến cho, như tỉ đắc Phật nhật trùng huy (khiến cho
mặt trời Phật pháp lại rực sáng)
bội → thêm, hơn nữa, như bội nan (càng khó khăn hơn)
đảo → đảo ngược, lộn nhào, như đảo h ạ (đảo ngược xuống)
ỷ → dựa vào, nương theo, như kỷ ỷ (ghế dựa), ỷ tùng chi
cát (dây leo dựa theo cây tùng)
phỏng → bắt chước, làm theo, như phỏng hiệu (bắt chước theo
giống như)
quyện → mỏi mệt, như yếm quy ện (chán mệt)
cứ → ngông nghênh xấc láo, như duy tri cứ ngạo (chỉ biết
ngông nghênh cao ngạo)
luân → loại, bậc, như tăng luân (hàng ngũ những người xuất
gia)
trực → gặp gỡ, như hựu trực thiện hữu (lại được gặp bạn
lành)
kiêm → gồm cả, kèm theo, như tự tha kiêm tế (cả mình và
người khác đều được cứu độ)
minh → mịt mờ tối tăm, như đạo lộ minh (đường đi mờ
mịt)
đống → nước đông lại (vì lạnh), như băng đống thủy ngưng
(băng giá vừa đông lại)
cương → bền cứng, dùng trong kim c ương (kim cương)
nguyên → ban đầu, vốn là, như phát tâm nguyên vi tu hành
(phát tâm vốn là để tu hành)
bộ → mớm cho ăn, như nhũ b ộ (bú mớm, chỉ việc mẹ nuôi con)
hạ → mùa hạ, dùng trong Hoa Hạ (tên gọi do người Trung Hoa
ngày xưa tự xưng)
hề → trợ từ, dùng đặt câu hỏi, như lâm khát quật tỉnh hề vi?
(lúc khát nước mới đi đào giếng làm gì?)
sa → từ dùng trong phiên âm chữ Sahā Sa-bà, cũng đọc là Ta-bà,
chỉ thế giới chúng ta đang sống.
tể → người đứng đầu, giữ chức vụ cao nhất, như chủ tể (vị chủ
nhân đứng đầu)
gia → nhà, gia đình, như xuất gia (lìa bỏ, rời khỏi gia đình), gia
nghiệp (sự nghiệp của gia đình, nghiệp nhà)
dung → dáng vẻ, như dung mạo (vẻ người, vẻ mặt)
khắc → định thời gian chính xác, như khắc nhật hoàn thành
(định ngày hoàn thành), ninhkh ắc (há định trước được sao?)
nga → cao lớn, cao ngất, như nga tích cốt (xương chất
thành đống cao ngất)
sai → sai lệch, không giống, như sai bi ệt (khác biệt nhau)
sư → thầy dạy, như minh sư (bậc thầy dạy sáng suốt), thế
phátb ẩms ư (cắt tóc, vâng theo lời thầy, nghĩa là theo thầy học đạo)
tịch → chiếc chiếu, chỗ ngồi, dùng nghĩa bóng chỉ chức vụ hoặc
nơi chốn, như chủ tịch (người giữ chức vụ đứng đầu), Tỳ-ni pháp
tịch (nơi đến để học hỏi giới luật)
tọa → chỗ ngồi, dùng chỉ vai vế, cấp bậc, như thượng tọa (vị
trưởng thượng, cao niên)
đình → sân nhà, như quảng vũnhàn đình (nhà to sân rộng)
đồ → không có gì, như đồ thủ (tay không), đồ tiêu (mất sạch
không được gì)
khủng → sợ,, sợ rằng, như chỉ khủng vạn kiếp thiên sanh
(chỉ sợ trong muôn kiếp ngàn đời)
dạng → bệnh tật, bất ổn, như vô dạng (không việc gì, nghĩa là
được bình thường)
sỉ → xấu hổ, lấy làm nhục, như khả tu khả sỉ (thật đáng thẹn
đáng nhục)
ân → ơn, như tứân (bốn ơn)
tức → 1. hơi thở, như sổ tức (đếm hơi thở), chuyển tức
thị lai sanh (đổi hơi thở đã sang qua kiếp khác) 2. dứt bỏ, cắt đứt, dừng
lại, như hưu tức (dừng nghỉ), tức ý vong duyên (lắng dừng tâm ý,
quên hết các duyên)
hối → hối tiếc, ân hận, như hậu hối nan truy (về sau hối tiếc
khó lòng quay trở lại)
ngộ → hiểu ra, biết rõ được, như khếng ộ (hợp ý mà hiểu ra)
chấn → chấn chỉnh, nâng cao lên, như chấn khởi (phấn chấn
phát khởi)
đĩnh → vượt trội, hơn người, như thiên đĩnh chi tư (tư chất
trời sinh vượt trội), đĩnh đ ặc (đặc biệt hơn người)
vãn → kéo lại, như vãn h ồi (kéo lại, làm cho trở lại như xưa)
quyên → dứt bỏ, quên đi, như tâm cảnh câu quyên (tâm và
cảnh đều quên sạch), nhược bất quyên căng (nếu như không dứt bỏ
sự kiêu căng)
hiệu → hết sức, đến cùng, như báo hi ệu (hết sức báo đền)
liệu → tính trước, lường trước sự việc, như liệu định (tính trước
để quyết định sự việc), tưởngli ệu (suy xét và tính trước sự việc)
thời → thời gian, lúc, như hà thời hưu tức (có lúc nào dừng
nghỉ đâu), thời quangy ểmm ột (ngày giờ qua đi mất)
yến → yên ổn, bình yên, như yếnnhiên (yên ổn như vậy)
căn → gốc rễ, căn do, như thiện căn (căn lành, nghĩa là những
điều thiện đã làm trước đây)
thù → rất, hết sức, như thù di ệu (rất tốt đẹp)
ân → đầy đủ, như ân phú (giàu có thịnh vượng), thọ dụng ân
phồn (nhận dùng rất nhiều, đầy đủ)
khí → tinh thần, khí lực, như ý khí (tâm ý khí lực)
phù → trôi nổi, không chắc chắn, như thế tự phù hư (đời trôi
nổi không thật)
hải → biển, như tứ hải (bốn biển)
niết → dùng trong phiên âm chữ Nirvāṇa Niết-bàn, dịch nghĩa là
tịch diệt, chỉ cảnh giới chứng đắc rốt ráo của chư Phật.
tiêu → tiêu mất, tiêu tan, như đồ tiêu (tiêu mất chẳng được gì)
thiệp → có liên quan đến, như bất thiệp điển chương (không
liên quan đến kinh điển)
liệt → cứng rắn, không khuất phục, như liệt sĩ (người chết vì
không chịu khuất phục), quyết liệt (quyết tâm mạnh mẽ, không chịu
khuất phục, thối chí)
dương → nấu chảy ra, như dương đồng (nước đồng sôi, nấu
chảy lỏng ra)
đặc → đặc biệt, khác người, như đặc đạt chi hoài (hoài bão
lớn lao khác người)
châu → hạt châu, loại ngọc quý, như bảo châu (châu báu)
lưu → chú ý, để ý đến, như lưu tâm (để tâm lưu ý đến điều gì)
súc → súc vật, loài vật, như súcsanh (các loài thú nói chung)
bì → mỏi mệt, như thăng trầm bì cực (chìm nổi hết sức mỏi
mệt)
tật → bệnh tật, như ngọat ật t ạisàng (bệnh nằm tại giường)
bệnh → đau ốm, có bệnh, như lãob ệnh (già và bệnh)
ích → lợi ích, tăng thêm, như quảng ích (rộng làm lợi ích cho
nhiều người)
chân → chân thật, như chân nguyên (cội nguồn chân thật). Chữ
này cũng thường viết là.
phá → phá vỡ, phá tan, như phá tam giới nhị thập ngũ hữu
(phá tan hai mươi lăm cảnh có trong ba cõi)
thần → thần, trong tinh thần, để chỉ phần ý chí, khí lực của con
người, như uẩnt ốtinh th ần (tích chứa sự trong sạch tinh thần)
tiếu → cười, như khảti ếukh ảlân (đáng cười đáng thương)
phấn → nát nhỏ, bị nghiền nát vụn, như phấn thân toái cốt (tan
xương nát thịt)
tố → tinh khiết, trong sạch, như nguyên tố (chất tinh khiết không
pha trộn), tốtâm (tấm lòng trong sạch)
phưởng → kéo tơ, kéo sợi dệt vải, như phưởng chức bất dĩ
(kéo dệt không ngừng)
ông → 1. chỉ người lớn tuổi hoặc có chức vị, có ý tôn quý, như
Diêm ông (tức Diêm vương); 2. cha, như cựu thị ông nhi tân tác
phu (trước là cha nay lại làm chồng)
canh → cày ruộng, như kiệt lực cung canh (đem hết sức lực tự
mình cày ruộng)
năng → có khả năng, có thể làm được điều gì, như nhược năng
bất thối (như có thể không thối lui), vị năng đốn siêu (chưa thể tức
thời vượt thoát)
hàng → con thuyền, như chu hàng (thuyền bè nói chung)
mang → mịt mờ, không rõ, như tiền lộ mang (đường phía
trước mịt mờ không rõ)
tư → đây, này, ấy..., như nhân tư bị hoặc (do nơi đây mà chịu
mê lầm)
nhẫm → dùng trong cụm từ nhẫm nhiễm để chỉ thời gian thấm
thoát qua nhanh, như nhẫm nhiễm nhất sanh thù vô sở ích (thấm
thoát qua hết một đời thật không chút ích lợi)
hoang → phóng túng, không giữ gìn phép tắc, như ngôn hành
hoangs ơ (lời nói và việc làm phóng túng, lơ đễnh)
tảo → sớm, như tự hận tảo bất dự tu (tự hận mình sớm
không lo tu)
suy → suy yếu, sa sút, như suy tàn chí thử (suy kém tàn lụi cho
đến mức ấy)
ngật → xong, hết, hoàn tất, như chu ng ật (khắp thảy trọn thành)
thác → ký thác, nhờ vào, như phụ thác thắng nhân (ký thác
nương cậy vào nhân lành cao trổi)
kí → ghi nhớ, như mạc ký mạc ức (không ghi nhớ, không tưởng
đến)
khởi → nghi vấn từ, như khởi bất kiến (chẳng thấy hay sao?),
khởivô ưuc ụ (không lo lắng sợ sệt hay sao?)
khởi → đứng lên, đứng dậy, như thực tất tiên khởi (ăn xong
đứng dậy trước)
cung → tự thân làm điều gì, như cung phùng xá-lợi (tự thân
được gặp xá-lợi Phật)
mê → mê lầm, không biết, không thức tỉnh, như tùng mê chí mê
(từ mê lầm đến mê lầm)
truy → quay lại chuyện đã qua, như truy niệm (tưởng niệm
chuyện đã qua), hậu hối nan truy (về sau hối tiếc khó lòng quay lại
được)
thối → lui, lùi lại, như nhược năng bất thối (nếu như có thể
không thối lui)
đào → trốn, lánh, như thành nanđào t ỵ (thật khó trốn lánh)
nghịch → trái, ngược, không thuận, như trung ngôn nghịch nhĩ
(lời nói thẳng trái tai, nghĩa là khó nghe)
huýnh → xa xôi vắng vẻ, cách biệt hẳn, như quýnh thoát trần
thế (lánh xa chốn trần thế)
châm → cây kim, như châm toàn (kim đâm)
trừ → trừ bỏ, dứt bỏ, như hữu quá bất trừ (có lỗi không trừ
bỏ)
cốt → xương, như cốt nh ụcđômi (xương thịt đều nát nhừ)
cao → cao, vượt trội hơn, như cao đức (có đức độ hơn người),
cao niên (lớn tuổi), cập chí niên cao lạp trưởng (cho đến khi tuổi
đời cao, tuổi hạ nhiều)
quỷ → ma quỷ, như vô thường sát quỷ (con quỷ vô thường giết
người)
kiền → khô ráo, như suy kiền khứ thấp (đẩy tới chỗ khô, tránh
chỗ ướt)
thúc → rất nhanh, như thúc hốt (thoáng chốc), thúc vãng
thúclai (chợt qua chợt lại, nghĩa là di chuyển rất nhanh chóng)
giả → không thật, không đúng, như giả chúng duyên nhi cộng
thành (các nhân duyên giả hợp mà thành), giả sử (chuyện không có thật
nhưng đưa ra để ví dụ)
thiên → thiên lệch, nghiêng về một bên, như trọng xứ thiên
trụy (rơi theo về chỗ nặng nề)
giai → cùng, đều, như giai chư thiện hữu đồng đáo đạo
trường (cùng các vị thiện hữu đều đến nơi đạo trường)
tố → làm, như thượngt ốphàm phu (hãy còn làm phàm phu)
đình → dừng lại, như niệm bất đình (phút giây không hề
dừng lại)
thâu → tạm bợ, qua loa, như thâu an (tạm thời an ổn)
ngụy → dối trá, như danhchiving ụy (gọi là dối trá)
động → lay động, làm lay động, như động tha tâm niệm (làm
lay động trong lòng người khác)
húc → khuyến khích, như giới húc tỳ-kheo (khuyến khích ngăn
ngừa các vị tỳ-kheo)
vụ → việc, sự vụ, như cấp v ụ (việc gấp rút)
bặc → trong cụm từ bồ b ặc, xem ở chữ bồ.
khu → dùng trong định ngữ khu (mỏn mọn, nhỏ nhặt)
duy → chỉ, duy nhất, như duy vi sanh tử (chỉ vì hiệu sống
chết), nghĩa tương tự như chữ.
xướng → nói ra, đề xướng, như truyền xướng (nói ra cho nhiều
người biết)
thương → buôn bán, như thương c ổ (khách buôn)
vấn → hỏi, như bác vấn tiên tri (rộng hỏi những người đã biết
trước)
khải → mở ra, như khải môn (mở cửa), khải sáng (mở bày ra,
sáng lập ra)
đạm → ăn, như đạm kỳ thân nhi vị thức (ăn thịt cha mẹ mà
không hay biết)
khải → khai mở, làm lộ ra, như khải ngộ chân nguyên (mở
thấy cội nguồn chân thật)
quốc → nước, như quốc gia (nước nhà, chỉ chung cả đất nước),
an qu ốc (làm cho đất nước được an ổn)
chấp → nắm giữ, như chấp trì danh hiệu (nắm giữ, duy trì
niệm danh hiệu Phật)
đường → rỡ ràng, như đường tăng tướng (rỡ ràng hình
tướng một vị tăng)
kiên → cứng chắc, kiên cố, như nguyện lực tối kiên (nguyện
lực là kiên cố nhất)
bà → dùng trong cụm từ bà-la-môn để phiên âm tiếng Phạn là
Brāhmana.
phụ → người vợ, như tích vi mẫu nhi kim vi phụ (trước kia
làm mẹ, nay lại làm vợ)
thục → ai, dùng trong câu hỏi, như Thục kế biệt ly chi lệ?
(Ai đong lường được lượng nước mắt biệt ly?)
túc → đã có trước đây, xưa kia, như túc vật (đồ cũ), túc thực
thiện căn (căn lành đã trồng từ trước)
tịch → lặng lẽ, yên vắng, như tâm không cảnh tịch (tâm rỗng
rang, cảnh vắng lặng)
khấu → giặc, kẻ cướp, như khấu thù (giặc thù)
tương → muốn, định làm gì, như tương vị xuất gia quý cầu
yth ực (toan nói rằng xuất gia quý ở việc cầu ăn mặc)
đồ → lò mổ, lò sát sinh, như khiên thỉ tựu đồ (dắt lợn vào lò
mổ)
sùng → cao, như sùngs ơn (núi cao)
đái → đeo, mang theo, như phi mao đái giác (mang lông đeo
sừng)
thường → thường, lúc nào cũng vậy, như thường dĩ như thử
(thường lấy việc như thế), vôth ường (không thường tồn)
dung → tầm thường, như dung nhân (người tầm thường),
dung b ỉ (thấp hèn, tầm thường)
trương → họ Trương, như kim tắc Trương Vương nan ký
(nay thì họ Trương, họ Vương cũng khó nhớ lại)
đắc → được, có được, như sở đắc (những gì có được), nan
đắc (khó được)
tỉ → dời đi, từ nơi này sang nơi khác, như tần thiên tỉ (luôn dời chuyển)
tùng → từ nơi, do nơi, như tùng tâm biến khởi (từ nơi tâm biến
hiện ra)
tất → hết thảy, toàn bộ, như tùng tâm biến khởi tất thị giả
danh (từ nơi tâm biến hiện, hết thảy đều là giả danh)
du → rong chơi, dùng trong du du (nhàn rỗi, chẳng có việc gì
làm), du t ốt tu ế (nhàn rỗi đến hết năm)
hoạn → mối lo, sự nguy hại, như thâm tri quá hoạn (hiểu thấu
sự nguy hại của tội lỗi)
tình → tánh tình, cảm xúc, như tình tồn thô tháo (còn giữ
những tánh tình thô thiển)
hốt → dùng trong cụm từ hoảngh ốt, xem ở chữ hoảng.
tích → quý tiếc, không muốn để mất, như khả tích quang âm
(thời gian đáng tiếc, nghĩa là không nên để luống qua vô ích)
duy → chỉ, chỉ có, như duy nhất (chỉ có một), duy tri cứ ngạo
(chỉ biết ngông nghênh cao ngạo), nghĩa tương tự như chữ.
xả → bỏ, buông bỏ, như tâm vô tạm xả (tâm không lúc nào tạm
rời)
tảo → quét dọn, làm sạch, như tế tảo (chỉ việc cúng tế tổ tiên và
tảo mộ)
quật → đào, như quật t ỉnh (đào giếng)
tiếp → đón nhận, tiếp đón, như tiếpd ẫn (tiếp nhận dẫn dắt)
suy → suy luận, suy ra, như dĩlý suychi (theo lý mà suy)
thố → bắt tay làm việc gì, như thố thủ bất cập (ra tay làm
không kịp), cửth ố (chỉ chung mọi hành động, việc làm)
cứu → cứu vớt, cứu giúp, như cứu độ chúng sanh (cứu giúp,
hóa độ chúng sinh)
sắc → lời dạy, mệnh lệnh phải làm theo, như đạo sư hữu sắc
(bậc đạo sư đã có lời dạy phải làm theo), chiếu mệnh của vua ban xuống
cũng gọi là sắc.
giáo → lời dạy, như giáo lý (những điều răn dạy), Phật giáo
(những điều Phật dạy)
ký → đã là, đã vậy, như ẩm thực ký tất (ăn uống đã xong rồi),
bỉ kýtr ượng phu (người kia đã là trượng phu)
vãn → muộn, hết, như niên vãn (lúc tuổi già), tuế vãn (cuối
năm)
hối → ẩn, không cho người khác biết đến, như hối tích thao
danh (ẩn giấu hình tích, tên tuổi)
vọng → mong mỏi, như phụcv ọng (cúi mong)
lương → cái xà nhà, dùng với chữ đống (trụ cột) thành cụm từ
đống lương (cũng dùng lương đống) để chỉ người quan trọng, gánh vác
chuyện trọng yếu.
điều → điều khoản, mục trong các văn bản, như điều chương
(phân thành điều khoản rõ ràng)
khí → bỏ đi, như hư khí (luống bỏ đi chẳng được gì), khí ly
(dứt bỏ rời đi)
dục → muốn, như nhược dục tham thiền học đạo (nếu như
muốn tham thiền học đạo)
sát → giết chết, như sát nhân (giết người)
lệ → nước mắt, như biệtlychi l ệ (nước mắt chia ly)
ứ → ứ đọng, như mộtt ại ứnê (chìm lấp trong bùn đọng)
tịnh → trong sạch, như tịnh như băng tuyết (trong sạch như
băng tuyết)
luân → chìm đắm, như một hậu trầm luân (sau khi chết phải
bị chìm đắm)
thâm → sâu, như thâm áo (sâu xa kín đáo, nghĩa là rất khó hiểu
được thấu hết)
uyên → vực sâu, như mê ngộ thiên uyên (mê với ngộ một trời
một vực)
yêm → mất, như thời quang yểm một (thời gian trôi qua mất
hết)
thiển → cạn, như căn thi ển (rễ cạn)
thanh → trong sạch, làm trong sạch, như thanh ư nhĩ mục (làm
trong sạch tai mắt, nghĩa là chỉ nghe thấy những điều hay lẽ phải)
phanh → nấu, đun cho chín, như quy chi tương phanh (con rùa
chuẩn bị đem nấu)
yên → sao, trợ từ dùng đặt câu hỏi, như yên tri thường thọ
Phật ân? (sao biết được thường chịu ơn Phật?)
khiên → dắt, dẫn đi, như cường giả tiên khiên (người mạnh
dắt đi trước)
lê → 1. cái cày, như canh dĩ niệm Phật chi lê (cày bằng lưỡi
cày niệm Phật); 2. dùng trong phiên âm chữ niraya nê-lê (địa ngục),
như đọa nê-lêtrung (đọa vào địa ngục)
mãnh → mạnh mẽ, hung hãn, như mãnh hỏa (lửa dữ, lửa cháy
mạnh)
hiện → hiện nay, như hiện ti ền (ngay trước mắt)
lý → lý lẽ, điều hợp lý lẽ, như nghĩa lý (lý lẽ và ý nghĩa), giáo
lý (những lý lẽ đưa ra để dạy dỗ)
tất → hoàn tất, làm xong, như thực tất tiên khởi (ăn xong đứng
dậy trước)
lược → sơ lược, lướt qua, như lược nhi ngôn chi (lược nói
qua), thường dùng hơn là chữ.
lược → sơ lược, chọn lấy một số điểm cốt yếu nhất, như sử
lược (chỉ tóm tắt những điểm chính trong lịch sử), lược thân quản
kiến (trình bày sơ lược chỗ thấy biết hẹp hòi), có khi cũng dùng chữ.
dị → khác, không giống, như dịt ục (khác với người thế tục)
quyến → thân quyến, người thân, như quyến thuộc (họ hàng
thân quyến)
nhãn → con mắt, như thiên nhãn (mắt trời, phép thần thông nhìn
thấu suốt không chướng ngại)
chúng → cũng viết là, chỉ đám đông, số nhiều, như chúng sanh
(tất cả các loài có sự sống), chúng duyên (các duyên), chúng khổ (các
nỗi khổ não)
tế → cúng tế, như cung thừa tế tự (vâng lo việc cúng tế, thừa
tự)
di → di chuyển, dời đi, như thốn bộ bất di (tấc bước chẳng dời
đi)
trất → vướng mắc, như trất ngại nan hành (vướng mắc, trở
ngại khó đi), laith ế tr ấtt ắc (đời sau phải vướng mắc, ngăn lấp)
chương → một phần trong văn bản, được chia ra rõ ràng, rành
mạch, như điển chương (chỉ chung kinh điển), điều chương (chỉ
chung các điều giới luật)
đệ → thứ hạng, như đệnh ịnhân duyên (nhân duyên thứ hai)
lạp → hạt, vật thể nhỏ, như lạp m ễ (hạt gạo)
thô → thô sơ, như khứ thô tồn tinh (bỏ cái thô sơ, còn lại cái
tinh tế), dùng trong từ ghép thô tháo để chỉ những gì chưa được tinh
luyện, làm kỹ, như tình tồn thô tháo (còn giữ những tánh tình thô
thiển)
luy → chồng chất thêm lên, như tích lũy (gom chứa lại, chồng
chất lên nhau ngày càng nhiều)
tế → tinh tế, như vi tế (nhỏ nhặt tinh tế), tử tế (cẩn thận, kỹ
lưỡng từng chút một)
thiệu → nối tiếp, như thiệu long thánh chủng (nối tiếp làm
hưng thịnh dòng giống thánh, tức là đạo pháp)
chung → kết thúc, hết, như chung thân lịch kiếp (trọn đời suốt
kiếp)
bán → trói buộc, ngăn trở, như oanh bán (trói buộc vây quanh)
tu → hổ thẹn, xấu hổ, như khảtu (đáng hổ thẹn)
tập → lặp đi lặp lại nhiều lần để thành quen thuộc, thông thạo,
như học tập (học biết và tập luyện), hiệp tập (thường quen biết gần
gũi, làm theo)
thoát → thoát ra khỏi, như giải thoát (cứu thoát ra khỏi nơi nào,
điều gì), quýnh thoáttr ần th ế (xa rời, thoát khỏi nơi trần thế)
thuyền → con thuyền, như thừa đại nguyện thuyền (đi trên con
thuyền đại nguyện)
trang → nghiêm trang, kính cẩn, như trang nghiêm (trang trọng
nghiêm cẩn)
mạc → đừng, không nên, như mạc đoạn mạc tục (không cắt
đứt cũng không nối tiếp), mạc tuần nhân tình (đừng chiều theo tình
thường của con người)
mãng → rậm rạp, um tùm, chất đống, như mãng hoành
thi (thây chất hàng đống)
xứ → nơi chốn, chỗ, như xứ đồng vi pháp lữ (ở nơi nào
cũng đều làm bạn đồng tu)
hư → 1. không có kết quả gì, uổng, luống, như thử hành bất
hư (chuyến đi này chẳng uổng công, nghĩa là có kết quả), hư triêm
tín thí (uổng nhận của tín thí, nghĩa là nhận hưởng mà không làm được
gì), thời quang diệc bất hư khí (thời gian cũng không luống mất) 2.
trống không, giả dối không thật, như thế tự phù hư (đời chỉ là phù
phiếm không thật)
ca → dùng trong phiên âm chữ kaṣāya ca-sa, như ca-sa bị
thể (thân khoác áo ca-sa)
bị → bị, chịu, như hoặc bị khinh ngôn (hoặc bị người khinh
chê)
nhạ → lấy làm lạ, ngạc nhiên, như cảm thương thán nhạ (lạ
lùng thương cảm biết bao)
phóng → tìm cầu, như tảo phóng minh sư (sớm tìm cầu bậc
thầy sáng suốt)
tham → tham, ham muốn, như tham luyến thế gian (ham muốn
lưu luyến chốn thế gian)
trái → trách móc, như tiện trách hậu sanh vô lễ (liền trách
kẻ hậu sanh vô lễ)
đam → mê đắm, như đam lạc (mê vui), đam vị bất hưu (mê
đắm mùi vị không thôi)
trục → tranh giành, theo đuổi để có được, như tận trục lợi
danh (toàn là mưu cầu danh lợi)
đồ → đường lối, đường đi, như quy đồ (đường về), xúc đồ
thành tr ệ (đường đi đến phải ngưng trệ)
giá → này, đây, như giá biên na biên (bên này bên kia)
thông → thông suốt, như chỉ vi cửu trệ bất thông (chỉ là ngăn
ngại lâu ngày không thông suốt)
tốc → nhanh chóng, như tấn t ốc (hết sức nhanh chóng)
tạo → làm ra, gây nên, như, hiểu tịch tạo ác tức mục giao
báo (sớm tối làm việc ác tức nhận lấy quả báo ngay trước mắt)
phùng → gặp gỡ, như cung phùng xá-lợi (tự thân được gặp
xá-lợi Phật)
đô → đều, thảy, như dung mạo đô vong (dung mạo đều quên
mất cả)
dã → thô lỗ, không thuần thục, như thuyết thoại thái dã (ăn
nói hết sức thô lỗ), sơ dã (buông lung thô lỗ)
bồi → nương theo, cùng theo, như ngã bồi nhĩ chí (tôi cùng đi
theo với anh), phụng bồi (kính hầu theo), thao bồi (lạm được
nương theo, cách nói khiêm tốn, tự cho là mình không xứng được)
âm → bóng mặt trời, nghĩa bóng chỉ thời gian, như bất quý
thốnâm (không quý trọng tấc bóng trôi qua, nghĩa là bỏ phí thời gian)
trần → trình bày, bày tỏ, như phi kinh bất năng trần thử sự
(ngoài kinh điển ra thì không đâu nói rõ được chuyện này)
tước → con chim nhỏ, chim sẻ, như hộc xuyên tước phi (dải
lụa thủng lỗ con chim bay qua)
tuyết → tuyết, hơi nước đông lại thành tuyết khi trời quá lạnh, như
băng tuy ết (tuyết và băng)
đỉnh → nơi cao nhất, đỉnh, như tất cùng kỳ đỉnh (phải lên đến
tận đỉnh)
bàng → dựa theo, nương theo, như đàm thuyết nãi bạng ư kê
cổ (luận bàn phải dựa theo những chuyện tích xưa), y bạng (nương
tựa vào)
bị → đủ, như bị th ọch ưkh ổ (chịu đủ các khổ não)
hiệu → giống như, như phỏnghi ệu (bắt chước theo giống như)
cát → cắt đứt, như cátli ệt (cắt xé ra)
sang → mới, khởi đầu, như sáng tạo (vừa mới làm ra lần đầu),
khảisáng (khai mở lần đầu tiên)
thắng → hơn xa, hơn hết, như thắng cảnh (cảnh đẹp hơn xa
những nơi khác), thắng nhân (tác nhân cao trổi hơn hết, nghĩa là điều
có thể nhân nơi đó nương theo mà được tiến bộ, lợi lạc, dùng để chỉ giáo
lý do Phật truyền dạy)
lao → nhọc nhằn, lao nhọc, như đồlao (nhọc nhằn vô ích)
bác → rộng, như uyên bác (kiến thức sâu rộng), bác vấn
tiên tri (rộng hỏi những bậc đã biết trước)
tham → xem để tìm hiểu, học hỏi, như tham khán (tìm xem,
tham khảo thêm), tham thi ền (học hỏi phép tu thiền, tu thiền)
thiện → tốt, lành, như thiện căn (căn lành, nghĩa là những điều
tốt đã làm để mang lại quả báo tốt đẹp), thiện giả (người tốt, người
hiền)
huyên → huyên náo, ồn ào, như huyên hiêu chỉ tuyệt (dứt sạch
những sự ồn ào nhiễu loạn)
khiết → ăn uống, như khiết dụng thường trụ (ăn dùng của
thường trụ, tức là của Tam bảo)
dụ → dụ, so sánh để làm rõ, như khâu sơn nan dụ (gò núi cũng
khó so sánh được)
kham → có thể, như Phật đạo kham thành (Phật đạo có thể
thành tựu)
báo → báo đáp, đền đáp, như dụng báo tứ ân (dùng để báo đáp
bốn ơn)
trường → nơi tụ họp đông người để làm gì, như đạo trường
(nơi tu tập của nhiều người)
áo → kín đáo, uyên áo, không dễ hiểu được, như thâm áo (sâu
kín khó hiểu)
hàn → lạnh, như hàntâm (lạnh trong lòng, rùng mình)
tôn → kính trọng, như tôntr ọng (cung kính, quý trọng)
tầm → 1. đơn vị đo chiều dài thời trước, bằng 8 thước cổ, như
thướng tủng thiên tầm (lên cao ngàn tầm) 2. dùng với chữ thường là
một đơn vị khác, bằng 2 thước cổ, thành từ ghép tầm thường để chỉ
một chỗ đất rất nhỏ, nghĩa bóng là vật hay người bình thường, nhỏ nhặt,
không mấy giá trị. 3. tìm kiếm, như ôn tầm bối diệp (ôn tìm kinh
điển)
tựu → đến, tới, như khứ tựu quai giác (đến đi không theo phép
tắc)
xí → tham gia, dự phần vào, như lạm xí tăng luân (không xứng
mà đứng vào hàng ngũ tăng chúng)
cường → mạnh, như cường gi ả (người có sức mạnh)
phục → trở lại, như phục thư (viết thư trả lời), nhất
thất nhân thân vạn kiếp bất phục (một khi đã mất thân người, vạn kiếp
không trở lại)
tuần → dùng trong nhân tuần để chỉ sự rụt rè, lưỡng lự, lần lữa
không chịu thực hiện điều gì
bi → buồn thương, như bi th ống (đau thương)
hoặc → mê hoặc, mê lầm, như kiến hoặc (chỗ thấy mê lầm),
nhânt ư b ị ho ặc (do nơi đây mà bị mê lầm)
ác → ác, xấu, như ác gi ả (người ác), tạo ác (làm việc ác)
nọa → biếng nhác, như dung đ ọa (uể oải lười nhác)
não → buồn bực, như phiền não (buồn phiền khó chịu)
hồng → hoảng hốt sợ hãi, như tâm lý hồi hoàng (trong lòng
hoảng sợ, mê loạn nghi ngờ)
đề → dùng trong từ ghép để phiên âm chữ bodhi Bồ-đề, như
Bồ-đề đ ạo thành (thành tựu đạo Bồ-đề)
dương → khen ngợi, như xưng dương (ngợi khen xưng tụng),
phu d ương (khen ngợi rộng ra khắp nơi)
huy → dùng trong cụm từ huy hoắc để chỉ khoảng thời gian thay
đổi trong chớp nhoáng, nhanh chóng, như lâm hành huy hoắc (giờ ra
đi chỉ trong thoáng chốc, ý nói đến lúc lâm chung)
tư → này, đây, như tư văn (bài văn này), cảm tư dị báo (cảm
ứng được quả báo khác thường này)
phổ → rộng khắp, như phổ độ chúng sanh (cứu độ khắp hết
chúng sanh)
trí → trí sáng suốt, trí tuệ, như bi trí song vận (vận dụng cả bi
lẫn trí)
tằng → đã từng, như vị tằng (chưa từng), bất tằng (chưa bao
giờ), tằngv ị thao b ồi (chưa từng lạm được nương theo)
tối → cao nhất, hơn hết, như tối diệu tối huyền (huyền diệu
hơn hết)
triêu → buổi sáng, như triêu t ồnt ịch vong (sáng còn tối mất)
kì → mong mỏi, kỳ vọng, như tâm kỳ Phật pháp đống lương
(trong lòng mong mỏi trở thành rường cột trong Phật pháp)
cức → gai góc, dùng trong cụm từ kinh cức để chỉ sự gian khó,
hiểm trở
đống → cột nhà, dùng trong cụm từ đống lương (cũng dùng
lương đống) để chỉ người gánh vác được trách nhiệm nặng nề, quan
trọng.
oản → chén, bát nhỏ, như nhất oản phạn (một chén cơm),
oảnbát tácthanh (chén bát khua động thành tiếng)
trị → trồng cây, nghĩa bóng chỉ việc làm điều gì mang lại kết quả
sau này, như túcth ựcthi ệncăn (vốn đã gieo trồng căn lành từ trước)
khi → lấn át, coi thường ai, như trượng thế khi nhân (ỷ thế
lấn át người), khinhkhi (khinh rẻ coi thường)
tàn → tàn lụi, như suy tàn (suy kém lụi tàn)
xác → thân xác, thể xác, như thoát xác (ra khỏi xác)
ôn → ôn lại, học lại chuyện cũ, như ôn cố tri tân (ôn lại
chuyện cũ biết được chuyện mới), ôn tầm bối diệp (ôn tìm kinh
điển)
trắc → lường, ngờ trước, như bấttr ắc (không ngờ trước được)
hạt → khát nước, như lâm khát quật tỉnh (lúc khát đào giếng -
ý nói việc quá chậm trễ, không còn kịp nữa)
thấu → dùng trong cụm từ thấu bạc với nghĩa là hội ý, hiểu
thấu, như,. Tổ sư ý tuấn ngạnh cô tiễu, hữu như kỳ bình
sanh nan ư thấu bạc. (Ý tổ sư cao vút bí hiểm, như có đem cả đời ra cũng
khó mà hiểu thấu. - Đại Quang Minh Tạng),. Trực hạ tiệt
đoạn cát đằng, hậu học sơ cơ nan vi thấu bạc. (Xuống tay dứt tuyệt bao
ràng buộc, người sau mới học dễ thấu đâu? - Cảnh Đức Truyền Đăng
Lục),, thả mạc tương tâm thấu bạc, đản hướng tự kỷ
tánh hải như thật nhi tu (đừng dùng tâm để mong hiểu thấu, chỉ cần
hướng vào tự tánh mênh mông chân thật của mình mà tu - Cảnh Đức
Truyền Đăng Lục), tương tâmth ấub ạc (dùng tâm để hiểu thấu)
quy → tên núi, là ngọn Quy Sơn nơi ngài Linh Hựu giảng dạy
giáo pháp, nhân đó lấy làm danh xưng của ngài là Quy Sơn Linh Hựu,
sau cũng dùng trong tên của tông phái do ngài mở đầu là tông Quy
Ngưỡng.
tư → thêm, càng hơn nữa, như tích tụ tư đa (gom góp lại ngày
càng nhiều hơn nữa)
vô → không, không có, như vô nhân khế ngộ (không do đâu để
hợp ý mà hiểu ra), tăng thể toàn vô (hoàn toàn không có dáng vẻ một
vị tăng)
nhiên → như thế, như vậy, như yến nhiên (yên ổn như thế),
nhân qu ả l ịch nhiên (nhân quả rõ ràng như vậy)
vi → 1. là, làm, như chỉ vi cửu trệ bất thông (chỉ là ngăn ngại
lâu không thông suốt), xứ đồng vi pháp lữ (ở đâu cũng cùng làm
bạn tu với nhau) 2. vị → vì, bởi vì, như cái vị sơ tâm dung đọa (đều
vì lúc phát tâm ban đầu uể oải lười nhác), xuất một vị tha tác tắc
(lúc hiện lúc ẩn đều vì người khác mà làm khuôn phép, nghĩa là nêu
gương cho người khác noi theo)
ổi → hèn, xấu, thấp kém, như cách chư ổi tệ (dẹp bỏ những
điều tồi tệ)
do → hãy còn, vẫn còn, như do bất xứng tâm (hãy còn chưa
vừa ý)
sơ → lưa thưa, có ít, như Phật pháp sanh sơ (pháp Phật chỉ có
ít người hiểu được)
thống → đau đớn, nỗi đau, như thống bất khả ngôn (đau đớn
không nói hết)
đăng → lên, bước lên, như đăng quang (lên ngôi vua), tài
đăng giới phẩm (vừa mới bước lên hàng giới phẩm, nghĩa là mới thọ
giới)
phát → 1. phát khởi, đưa ra, như phát túc siêu phương (cất
bước vượt lên chỗ cao xa) 2. vạch ra, làm lộ rõ, như phát quật (khai
quật lên), phátmông (vạch rõ chỗ tối tăm)
đẳng → cùng, đều là, như bất khả đẳng nhàn quá nhật
(không thể cùng nhàn nhã để ngày trôi qua)
đáp → báo đáp, trả lại, như thùđáp (đền đáp lại)
sách → cái roi để thúc ngựa, nghĩa bóng chỉ sự thúc giục, khuyến
khích, như thờith ờic ảnhsách (thường xuyên răn dạy khuyến khích)
chúc → cháo, như nhịth ời chúc ph ạn (hai bữa cơm cháo)
kết → bó lại, đọng lại, như thanh liên nh ịk ết (sen xanh bó nhị)
tuyệt → dứt hẳn, như chỉtuy ệt (ngăn lại và dứt sạch)
cấp → cấp cho, cung cấp, cung ứng cho việc gì, như tế tảo bất
cấp (việc cúng tế, tảo mộ không lo)
ti → tơ, sợi tơ, như thốn ti (một tấc tơ)
kinh → cây mận gai, dùng với chữ cức để chỉ chung sự khó khăn,
ngăn trở, như kinh thiên cức địa (khắp nơi đều chông gai ngăn trở, ý
nói thời loạn lạc), khứ kỳ kinh cức (quét sạch hết những sự khó
khăn, ngăn trở)
bồ → dùng trong từ ghép Bồ-đề để phiên âm chữ bodhi.
hoa → bông hoa, như hoa khai (hoa nở)
hư → 1. trống rỗng, như hư không (khoảng không trống rỗng); 2.
thiếu thốn, như cơh ư (đói thiếu)
liệt → xé ra, làm rách ra, như cátli ệt (cắt xé)
tố → nói cho biết, như cơh ưan t ố? (đói thiếu ai nói cho biết?)
quý → quý trọng, quý ở, cốt ở, như quý cầu y thực (quý cầu ở
việc ăn mặc)
phí → chi phí, tốn kém cho việc gì, như thân khẩu sở phí (phí
tổn cho việc ăn mặc)
sấn → đua theo, đuổi theo, như nhất kỳ sấn lạc (đua vui trong
chốc lát)
siêu → vượt qua, vượt trội, như siêu đẳng (vượt hơn tất cả),
đốn siêu phương tiện chi môn (tức thời vượt qua các phép tu phương
tiện)
việt → dùng trong cụm từ đàn việt để dịch tiếng Phạn là
dānapati, cũng phiên âm là đàn-na, chỉ những người phát tâm cúng
dường cho chư tăng.
đà → dùng trong cụm từ sa đà để chỉ việc lần lữa bỏ phí thời
gian, như tuế nguyệt sa đà (năm tháng lần lữa trôi qua, nghĩa là
chẳng làm được việc gì hữu ích)
hoán → thay đổi, sửa đổi, như luânhoán (chuyển đổi)
tấn → tiến bộ, tiến tới, như tiến đạo nghiêm thân (lấy việc
tiến bộ trên đường đạo mà làm đẹp cho mình)
dật → nhàn rỗi, không phải làm việc gì, như dĩ bỉ lao nhi
cungngã d ật (lấy sự nhọc nhằn của người khác để cho ta được nhàn rỗi)
hương → quê hương, người cùng quê hương, như hương đảng
(xóm giềng thân tộc)
lượng → đo lường, liệu lường, như kinh vô lượng kiếp (trải
qua vô lượng kiếp, nghĩa là không thể tính lường được)
độn → chậm lụt, trì độn, như ngu đ ộn (ngu si chậm hiểu)
khai → mở rộng, như khai đặc đạt chi hoài (mở rộng hoài
bão đặc biệt khác người)
nhàn → to lớn, rộng, như nhàn đình (sân rộng), đôi khi cũng dùng
như chữ.
nhàn → nhàn rỗi, không làm gì cả đẳng nhàn quá nhật (cùng
nhàn nhã để ngày trôi qua)
gian → trong khoảng, ở giữa, như thế gian (ở trong cõi thế),
nhất sát-nagian (trong khoảng thời gian một sát-na)
long → làm cho hưng thịnh, phát triển, như thiệu long thánh
chủng (nối tiếp làm hưng thịnh dòng giống thánh)
giai → bậc thềm, đường lối để dẫn đến nơi nào, nghĩa bóng chỉ
phương thức để đạt được điều gì, như xuất trần giai tiệm (chỗ
nương theo để dần ra khỏi trần tục)
thuận → thuận theo, hợp với, như thanh hòa hưởng thuận (âm
thanh hài hòa thì tiếng vọng thuận theo)
tu → nên, như hựu tu dĩ Phật pháp vi tiên sách (lại nên
dùng pháp Phật làm ngọn roi thúc giục)
phạn → cơm, như chúcph ạn (cơm cháo)
ẩm → uống, như dương đồng nan liệu khát, ẩm chi
tắc cốt nhục đô mi (nước đồng sôi không giải cơn khát, uống vào liền
xương thịt nát nhừ)
hắc → màu đen, đen tối, như hắc tâm (lòng dạ đen tối, độc ác),
hắcmôn (cửa địa ngục)
loạn → rối loạn, lộn xộn, như hộilo ạn (vỡ tung hỗn loạn)
ngạo → cao ngạo, như duy tri cứ ngạo (chỉ biết ngông nghênh
cao ngạo)
truyền → truyền trao, truyền lại, như truyền xướng (truyền nói
ra)
trái → món nợ, như phụtrái (mắc nợ, mang nợ)
thương → có lòng thương, như cảm thương thán nhạ (lạ lùng
thương cảm biết bao)
cẩn → chỉ là, chẳng qua, như cẩn năng tự lợi (chỉ có thể làm
lợi riêng mình)
cần → chuyên cần, siêng năng chăm chỉ, như sự nghiệp bất
cần (sự nghiệp không chuyên cần)
tự → nối dõi, nối dòng, như tự tử (con nối dòng), kế tự (nối
tiếp dòng dõi)
hào → kêu la, gọi lớn, như khiếu hào chi thảm (kêu gào thảm
thiết)
viên → hình tròn, dùng trong thụy hiệu vua ban cho ngài Linh
Hựu là ĐạiViên Thi ềns ư.
tháp → ngọn tháp, như cửu tằng chi tháp (ngọn tháp cao chín
tầng)
tắc → ngăn kín, bít lấp, như lai thế trất tắc (đời sau phải
vướng mắc, ngăn lấp)
vi → rất nhỏ, như hiển vi (làm rõ những vật rất nhỏ, kính phóng
đại thường gọi là kính hiển vi), vi t ế (rất nhỏ nhặt tinh tế)
tưởng → suy tưởng, suy nghĩ, như tưởng liệu (suy tính liệu
lường)
sầu → lo lắng, như hàs ầuth ốichuy ển (lo gì sự thối chuyển)
mẫn → xót thương, như tự mẫn tha (thương mình thương
người)
ý → ý nghĩ, tâm ý, như tức ý vong duyên (lắng dừng tâm ý, quên
hết các duyên)
ngu → ngu dốt, như ngu si (ngu dốt si mê)
ái → yêu thương, ái luyến, như xuất ái dục hải (ra khỏi biển ái
dục)
cảm → 1. tình cảm, cảm xúc, như cảm thương (thương cảm) 2.
cảm ứng, chiêu cảm, như cảm tư dị báo (chiêu cảm được quả báo
khác thường ấy)
quý → xấu hổ, hổ thẹn, như khởi bất khả quý tai (lẽ nào
không đáng hổ thẹn lắm sao?)
từ → lòng từ, lòng thương, như từ bi (tâm từ và tâm bi)
tập → chế phục, chặn đứng, dùng trong tập liễm để chỉ việc
chế phục, thâu nhiếp tâm ý.
tổn → hao tổn, mất mát, như đạit ổn (mất mát lớn lao)
sưu → tìm kiếm, như tinh s ưu (tìm kiếm thật kỹ lưỡng)
kính → kính trọng, như bất kính (không kính trọng). Trong thái
độ đối với người khác, giữ cho dáng vẻ nghiêm trang kính cẩn gọi là
cung; giữ cho trong lòng không một chút khinh nhờn gọi là kính. Nên nói
cungkính là hàm ý đủ cả trong lòng, ngoài mặt đều kính trọng.
tân → mới, như tân h ọc (người mới học)
hội → hội lại, hợp lại, như hội ng ộ (gặp gỡ, hội lại một nơi)
nghiệp → 1. nghiệp quả, những điều đã làm từ trong quá khứ mang
lại kết quả trong hiện tại, như nghiệp hệ thọ thân (nghiệp quả trói
buộc mà có thân này), thức tâm tùy nghiệp (tâm thức theo nơi nghiệp
lực dắt dẫn) 2. sự nghiệp, thành quả đã làm ra được, như gia nghiệp
(cơ nghiệp của gia đình), diệc lai nghiệp vô tì (sự nghiệp sau này
cũng không có ích lợi)
cực → khốn khổ, cực nhọc, như bìc ực (mỏi mệt cực nhọc)
tuế → năm, như tuế nguy ệtsa đà (năm tháng lần lữa trôi qua)
hủy → hủy bỏ, phá hủy, như hủy phạm (phá bỏ, phạm vào [giới
luật])
nguyên → cội nguồn, như chân nguyên (cội nguồn chân thật)
diệt → diệt, dứt mất không còn, như chánh pháp, tượng
pháp giaidĩdi ệtt ận (chánh pháp, tượng pháp đều đã diệt mất)
thao → tràn ngập, đầy dẫy, như thao (mênh mông), cử
mục thao (nhìn ra khắp nơi)
tiên → nấu, đun, như tiênngao (đun nấu)
phiền → làm phiền, gây phiền nhọc cho người khác, như tần
phiền ng ụct ốtbìlao (nhiều phen phiền đến ngục tốt phải nhọc sức)
đương → 1. nên, như đương tri (nên biết rằng); 2. hiện nay, như
đươngth ế (đời nay)
minh → thề ước cùng chung làm điều gì, như liên minh (tổ chức
liên kết cùng nhau), đồng minh (tổ chức cùng mục đích), liên xã
tôngminh (họp nhau cùng nguyện tu tập niệm Phật)
đổ → xem, nhìn, như vị đổ Phật kinh (chưa xem kinh Phật)
toái → nát vụn, tan nát, như phấn thân toái cốt (tan xương nát
thịt)
bẩm → 1. nhận, có được, như thiên bẩm (tính trời cho, nghĩa là
tự nhiên sinh ra đã có), bẩm phụ mẫu chi di thể (có được thân thể
do cha mẹ truyền lại cho) 2. vâng lời, nghe theo, như bẩm thừa (vâng
lệnh), thế phát bẩm sư (cạo tóc nghe theo thầy, nghĩa là theo thầy
học đạo)
quật → hang, động, như thiết qu ật (hang sắt)
kinh → 1. trải qua, như động kinh niên tải (trải qua nhiều
năm) 2. kinh điển, như kinhvân (trong kinh nói rằng)
tội → tội lỗi, như tiểu tội (tội nhỏ nhặt), trọng t ội (tội nặng)
trí → đặt để, làm cho, như trí chi vô dụng (làm cho thành vô
dụng)
nghĩa → ý nghĩa, như liễu nghĩa (hiểu rõ ý nghĩa)
thánh → bậc thánh, trong văn này chỉ đức Phật, như khứ thánh
thời diêu (thời của bậc thánh đã qua lâu rồi, tức là cách xa thời Phật ra
đời)
trường → ruột, như can tr ường (gan ruột)
phúc → bụng dạ, tấm lòng, như không phúc cao tâm (trong
lòng trống rỗng mà tâm ý cao ngạo)
vạn → vạn, mười ngàn, dùng với nghĩa tượng trưng để chỉ số
lượng rất nhiều, như vạn pháp (tất cả các pháp), vạn vật (hết thảy
sự vật)
lạc → rơi rụng, rơi rớt, như đọa l ạc (sa đọa xuống)
diệp → lá cây, như bối diệp (lá cây bối), ngày xưa dùng để ghi
chép kinh điển, nên bối diệp dùng để chỉ cho kinh điển.
cát → dây sắn, dây leo, như ỷ tùng chi cát (dây leo dựa theo
cây tùng)
ngu → mối lo, sự lo lắng, như thối thất chi ngu (mối lo sợ thối
chuyển, lui sụt)
hiệu → tên hiệu, danh hiệu, xưng tên là, như thiểm hiệu sa-
môn (hổ thẹn xưng là sa-môn)
quyên → con bọ, loài vật nhỏ có thể động đậy, nghĩa là có sự sống,
như nhu động quyên phi (chỉ chung các loài động vật bò, bay, máy
cựa...)
lý → bên trong, như thủ lý (trong tay), tâm lý (trong lòng, ta
dùng chữ này chỉ chung về những gì liên quan đến tình cảm, cảm xúc)
sa → dùng trong phiên âm chữ kaṣāya ca-sa, như ca-sa bị
thể (thân khoác áo ca-sa)
giải → phân tích để hiểu rõ, như tường giải (giải thích thật
tường tận), bất giải (không tìm hiểu rõ)
tuân → hỏi, nhờ người khác nói cho mình biết điều chưa biết, như
tưtuân (bàn luận, thưa hỏi)
thoại → câu chuyện, lời nói, như đối thoại (nói chuyện với
nhau), tạp thoại (câu chuyện hỗn tạp, lộn xộn không chủ đích, không
đề mục, thường là vô bổ)
cai → đó, ấy, như cai x ứ (nơi đó), cai nhân (người ấy)
thành → thật, thật sự là, như thànhnan (thật sự là khó)
tư → số tiền tiêu dùng, như nhật dụng sở tư (chi tiêu trong
ngày)
cổ → cửa hàng, việc bán hàng. Đem hàng đi bán gọi là thương,
bán hàng tại cửa hàng gọi là cổ, nên thương cổ chỉ chung việc buôn
bán, người đi buôn bán, doanh nhân.
tặc → kẻ giặc, như tróc tặc (bắt kẻ giặc), lục tặc (sáu tên
giặc)
tích → dấu chân, vết tích, hình tích, như hối tích thao danh (che
giấu hình tích của mình không cho ai biết đến)
lộ → đường đi, như, tiền lộ mang, vị tri hà vãng
(đường phía trước mịt mờ, chưa biết về đâu)
tải → năm, cùng nghĩa như chữ niên nhưng hay dùng chung với
nhau trong văn, như tam niên ngũ tải (chừng năm ba năm), động
kinh niên tải (trải qua nhiều năm), thiên tải nhất thời (ngàn năm mới
có một lần)
bức → ép, đè ép, như bức bách (thúc ép, bức bách)
toại → xong việc, kết cục, như toại sự bất gián (việc đã xong
rồi không can gián nữa), toạithành (rốt cục thành ra)
ngộ → gặp gỡ, như hội ng ộ (gặp gỡ, hội lại một nơi)
du → rong chơi, lông bông không mục đích, như du tốt tuế
(rong chơi nhàn rỗi suốt năm)
vận → vận dụng, sử dụng, như bi trí song vận (vận dụng cả
bi và trí)
biến → lượt, một lần trải qua hết cái gì, như vạn biến (muôn
lần). Tụng trì kinh, chú, mỗi lần hết một câu, một quyển cũng gọi là một
biến.
quá → 1. trôi qua, như mạc không quá nhật (đừng để ngày trôi
qua vô ích) 2. tội lỗi, lỗi lầm, như cải quá (sửa lỗi), quá hoạn (mối
nguy hại của tội lỗi)
đạo → đạo, đường tu tập, như Phật đạo (đạo Phật),
huyền đạo vô nhân khế ngộ (đạo nhiệm mầu không nhân đâu để hợp ý
hiểu ra)
đạt → thông suốt, không ngăn ngại, như trực đạt (thẳng suốt),
đặc đ ạt chi hoài (hoài bão rộng lớn khác người)
vi → trái nghịch, chống lại, như thường tương vi bội (thường
trái nghịch chống lại nhau)
thù → đền đáp, như thù tạ (trả ơn, trả công), thù báo tứ ân
(báo đáp bốn ơn)
bát → cái bát, bình bát để xin cơm của người xuất gia, như oản
bát tác thanh (chén bát khua động thành tiếng)
cách → cách trở, ngăn cách, như cách thế (cách đời, nghĩa là
thuộc đời sống khác trước đây)
dự → dự phòng, chuẩn bị trước khi việc gì xảy ra, như dự án
(bản sắp xếp phân bố công việc trước khi thi hành), dự tu (lo tu tập từ
trước, nghĩa là khi còn chưa quá muộn)
đốn → tức thời, ngay lập tức, như đốn khởi (thình lình phát khởi
ra), đốnsiêu (tức thời vượt qua)
tượng → tương tợ, giống nhưng không còn như thật, đây chỉ thời
tượng pháp, nghĩa là khi mà giáo pháp vẫn còn tồn tại nhưng không hoàn
toàn giống như lúc Phật tại thế, chỉ còn tương tợ mà thôi, như tượng
quý (cuối thời tượng pháp)
tăng → người xuất gia, vị tăng, như tăng luân (hàng ngũ những
người xuất gia)
yếm → chán, không ưa thích nữa, như yếm quyện (chán nản mỏi
mệt)
thường → từng, đã từng, như vị thường văn chi hỹ (chưa
từng nghe qua việc ấy), vị thường phản tỉnh (chưa từng nhìn lại
chính mình)
đồ → mưu việc, tính việc, như đồ hộ (mưu tính chuyện giúp đỡ,
bảo vệ)
trần → trần tục, trần thế, như tuầntr ần (thuận theo trần tục)
cảnh → cảnh sắc, những gì nhìn thấy quanh ta đều gọi chung là
cảnh, như tâm khôngc ảnh t ịch (tâm trống rỗng, cảnh lặng yên)
thọ → tuổi thọ, sống được, như Tứ thiên vương thọ ngũ
bách tu ế (chư thiên cõi trời Tứ thiên vương sống được 500 năm)
mộng → mộng, giấc mơ, như ác mộng (giấc mơ dữ, nghĩa là
thấy những điều ghê sợ); những gì không thật có gọi là mộng, như
mộngtr ạch (căn nhà mộng, nghĩa là hư huyễn, giả dối không thật)
sát → xem xét kỹ để tìm sai phạm, lỗi lầm, như kiểm sát (kiểm
tra xem có lỗi hay không), giácsát (xem xét phát hiện ra lỗi)
thật → có thật, đúng thật, như tận tri bất thật (biết rõ là không
thật)
ninh → nghi vấn từ, như ninh khả dĩ nhượng da (há có thể
nhường được sao?), ninh kh ắc (há định trước được sao?)
đối → qua lại với nhau, như đối chất (xét hỏi qua lại với nhau,
nghĩa là bên nào cũng có hỏi và có trả lời), dữ chư trần tác đối (cùng
qua lại với các trần)
tế → xấu xa, tệ hại, như cách chư ổi tệ (dẹp bỏ những điều
tồi tệ)
thảm → thảm thiết, đáng thương tâm, như khiếu hào chi thảm
(khóc gào thảm thiết)
chương → dùng trong cụm từ chương hoàng để chỉ tâm trạng rất
sợ sệt.
dong → uể oải, không muốn làm việc, như dung đọa (uể oải
lười nhác)
bàn → dùng trong từ ghép Niết-bàn để phiên âm chữ Nirvāna, chỉ
cảnh giới tịch diệt giải thoát rốt ráo của chư Phật.
trệ → ngưng trệ, vướng mắc, như xúc đồ thành trệ (đường tới
phải vướng mắc ngưng trệ)
mãn → đầy đủ, trọn vẹn, như nhân viên quả mãn (nhân quả
tròn đầy trọn vẹn)
tiệm → dần, từ từ, như tiệm tu (tu tập dần, nghĩa là
tiến bộ dần), xuất trần giai tiệm (thềm bậc để dần ra khỏi
trần tục)
nhĩ → vậy, ấy... như nhĩ thời (vào lúc ấy), ngã diệc nhĩ (ta
cũng vậy)
ngục → nơi giam nhốt người có tội, như lao ngục (nhà tù), địa
ngục (nơi tội nhân chịu sự trừng phạt)
chân → xem xét làm rõ, như chân biệt (xét rõ phân biệt tốt xấu,
hay dở)
tận → hết mức, tận cùng, như tận tri (biết rõ hết, nghĩa là không
còn gì thiếu sót)
phúc → phúc đức, phước lành, như đa phúc (có nhiều phúc đức)
chủng → hạt giống, loài giống, như hoàng chủng (giống da
vàng), thánh chủng (dòng giống thánh, chỉ đạo pháp do Phật truyền
lại)
xưng → 1. xưng là, tự nói mình là, như lạm xưng Thích tử (lạm
xưng là con Phật, nghĩa là không thật xứng đáng); 2. nói rằng, cho biết
rằng, như kinh xưng tiểu thiện bất sanh (kinh nói rằng việc thiện ít
ỏi không được sanh về); 3. xứng → thích hợp với, vừa với, như bất
xứng tâm (không vừa lòng, nghĩa là chưa hợp với ý mình)
kiệt → hết sạch, cùng kiệt, như kiệt lực (dốc hết sức, nghĩa là
không thể gắng hơn được nữa)
đoan → 1. ngay thẳng, như hình trực ảnh đoan (hình ngay thì
bóng thẳng); 2. manh mối, đầu mối, như đa đoan (nhiều mối)
quản → cái ống tròn nhỏ. Dùng từ này trong quản kiến với ý
khiêm nhường, tự cho rằng chỗ kiến thức của mình chỉ nhỏ hẹp như
nhìn thấy trong cái ống, xuất phát từ thành ngữ dĩ quản khuy thiên
(lấy ống nhìn trời) để chỉ người kiến thức nông cạn.
tinh → 1. thuần túy, không xen lẫn, như tinh thần (những gì hoàn
toàn vô hình, thuộc về tình cảm, trí tuệ...) 2. tinh túy, chỗ hay đẹp nhất,
như tinh y ếu (chỗ tinh túy quan trọng nhất)
truy → vải màu đen, dùng nghĩa bóng để chỉ người tu hành, vì mặc
y phục đen xấu, như phi truy (khoác áo người tu), truy môn (cửa
chùa, nhà chùa)
tự → suy nghĩ, ý tưởng, như tình tự (suy nghĩ về tình cảm), ý
tự (ý nghĩ), tâm t ự đađoan (trong lòng suy nghĩ nhiều mối)
phạt → xử phạt, có tội bị trừng trị gọi là phạt, như hình phạt
(các biện pháp để trị kẻ có tội)
tụ → gom về một nơi, như tụ h ội (hội họp lại một nơi)
văn → nghe, như vịvăn (chưa được nghe)
dữ → 1. cùng với, như dữ chư trần tác đối (cùng qua lại với
các trần); 2. đưa cho, như bất dữ nhân kỳ (không cho người kỳ hẹn,
nghĩa là không thể biết lúc nào)
mông → bị che lấp, tối tăm, như phát mông (vạch rõ chỗ tối tăm)
cái → 1. do, bởi, như cái vị sơ tâm dung đọa (bởi vì lúc phát
tâm ban đầu uể oải lười nhác) 2. bao trùm, hết thảy, như văn
thanh kiến sắc cái thị tầm thường (nghe biết âm thanh hình sắc, hết thảy
đều là chuyện bình thường)
tì → ích lợi, như diệc lai nghiệp vô tì (sự nghiệp sau này cũng
không có ích lợi)
thường → cái xiêm, một loại áo, như tứ quý y thường (y phục
trong bốn mùa)
thệ → thề, nguyện, quyết lòng, như thệ quy An Dưỡng
(nguyện về cõi An Dưỡng, tức là thế giới Tây phương Cực Lạc của đức
Phật A-di-đà)
ngữ → tiếng, lời nói, như Việt ngữ (tiếng Việt), đại ngữ cao
thanh (lớn tiếng nặng lời)
giới → răn bảo, khuyên can đừng làm việc gì, như giáo giới (răn
dạy, nghĩa là chỉ việc tốt cho làm, nêu việc xấu để tránh)
thuyết → nói ra, giảng giải, như đàm thuyết (bàn luận giảng
giải)
mạo → dáng vẻ bên ngoài, như lễ mạo (dáng vẻ lễ phép),
dungm ạo (vẻ người, vẻ mặt)
tân → người khách, như vãng lai tam giới chi tân (đến đi
trong ba cõi như người khách, nghĩa là không trói buộc, chìm đắm)
khinh → khinh rẻ, như nhân sở khinh khi (người ta đều khinh
chê)
dao → lâu xa, như khứ thánh thời diêu (thời của bậc thánh đã
qua lâu rồi)
đệ → theo thứ tự, như đệ tiến (lần lượt theo thứ tự tiến tới),
đệ tương cảnh sách (lần lượt răn dạy khuyến khích cho nhau, nghĩa là
theo thứ tự người trước răn dạy nhắc nhở người sau)
viễn → xa xôi, như viễnhành (đi xa)
bỉ → thô bỉ, hèn kém, như bỉ phu (kẻ thô bỉ), dung bỉ (tầm
thường thấp kém)
đồng → đồng, tên kim loại, như dương đồng (nước đồng sôi,
nghĩa là bị nóng chảy thành nước)
minh → bài văn để tự khuyên răn, nhắc nhở, thường viết treo ở
gần chỗ ngồi, nơi đọc sách..., như tòa hữu minh (lời răn nhắc để bên
phải chỗ ngồi, nghĩa là để thường nhìn thấy)
tế → giới hạn xa nhất về thời gian hoặc không gian, như lâm tế
(nơi rừng núi xa xôi), biên tế (cõi biên cương xa nhất), tiền tế
(những việc đã xảy ra về trước), hậut ế (những việc xảy ra về sau)
chướng → điều ngăn che, chướng ngại, như hà chướng nhi
bất kiến kim thân? (do che chướng gì mà không thấy được thân Phật?),
sám hối nghiệp chướng (ăn năn hối cải những nghiệp xấu, chướng
duyên đã tạo ra)
nhu → điều nhu yếu, cần dùng, như tật bệnh sở nhu (nhu cầu
phải có khi bệnh tật)
táp → tiếng gió thổi qua nhanh, cũng dùng táp nhiên, nghĩa bóng
là việc gì xảy đến rất nhanh, như táp nhiên bạch thủ (thoắt chốc đã
bạc đầu)
giá → giá trị, giá bán, như vô giá bảo châu (hạt châu báu vô
giá, nghĩa là quá đắt, không thể định giá bán)
nghi → dáng vẻ, hình tướng, như hìnhnghi (hình tướng oai nghi)
kiếm → lưỡi kiếm, lưỡi gươm, binh khí sắc bén thời xưa, như
phàn kiếm thụ dã, tắc phương thốn giai cát liệt (leo lên cây phủ
kiếm sắc, ắt từng mảnh da nhỏ đều bị cắt xé ra)
trụy → rơi xuống, như trọng xứ thiên trụy (nghiêng rơi về bên
nặng)
tăng → tăng thêm, phát triển, như tự nhiên tăng trưởng (tự
nhiên phát triển, lớn lên)
đọa → sa đọa, rơi xuống nơi tồi tệ, như đọa địa ngục (sa vào
địa ngục)
thẩm → xét kỹ, biết rõ, như thẩm sát (kiểm tra, xem xét thật kỹ)
tằng → tầng bậc, như cửu t ằng chi tháp (tháp cao chín tầng)
tràng → cờ phướn, mảnh vải dài treo rũ xuống để trang trí, như
caotràng (lá phướn treo cao)
quảng → rộng, như quảng ích (rộng làm lợi ích cho người)
ảnh → hình chiếu, cái bóng, như hình trực ảnh đoan (hình ngay
thì bóng thẳng)
đức → như tháo tâm dục đức (làm cho lòng dạ trong sạch, nuôi
dưỡng đạo đức)
tuệ → trí tuệ, trí sáng suốt rõ biết, như Thế Tôn tắc
cụ hữu vô lượng thần thông trí tuệ (đức Thế Tôn ắt có đầy đủ vô lượng
thần thông trí tuệ)
lự → lo tính về việc gì, như hà lự gian nan? (lo gì chuyện gian
khổ khó khăn?)
ưu → lo lắng, như ưu cụ (lo lắng sợ sệt)
lân → cảm thương, xót xa cho ai, như ai lân (thương xót)
ma → dùng trong từ ghép sám-ma để dịch âm Phạn ngữ kṣama,
mang nghĩa là hối (), hối tiếc về việc sai trái đã làm. Hai chữ sám hối (
) là cách dùng lặp nghĩa theo thói quen, bởi sám cũng có nghĩa là hối.
phu → ban bố, mở rộng ra, như phu dương (khen ngợi nói rộng
ra)
số → nhiều lần, thường gặp, như sác kiến (thường thấy),
sác thanh ư nhĩ mục (thường giữ trong sạch tai mắt, nghĩa là
không nghe nhìn những điều xấu ác.)
số → số lượng, con số, như phi luận kiếp số (không tính được
số kiếp, nghĩa là nhiều vô cùng)
tạm → tạm thời, chốc lát, không lâu dài, như tạm xả (tạm thời
rời bỏ)
mộ → buổi tối, lúc chiều tối, như triêu xuất nhi mộ hoàn
(sáng ra tối trở vào)
lạc → vui, như bất tri lạc thị khổ nhân (không biết rằng vui
là nguyên nhân của khổ)
thán → than thở, bày tỏ cảm xúc, như thán nhạ (than thở sự lạ
lùng)
nhuận → ẩm ướt, như thời hữu nhuận (lúc nào cũng ẩm
ướt)
hội → vỡ tung, tan nát, như hộilo ạn (rối tung hỗn loạn)
trừng → lắng trong, như trừngthanh (lắng trong thanh tịnh)
thục → kỹ lưỡng, thuần thục, như thục lãm tư văn (hãy đọc kỹ
bài văn này)
ngao → nấu, rang khô, như tiên ngao (đun nấu) tiên là đun nấu
có nước, ngao là đun nấu không có nước, nấu khô.
nhiệt → nóng, như nhiệt thi ết (sắt nóng)
bàn → vật chứa các đồ vật khác, cái mâm, như tiên ngao bàn lý
(đun nấu trong vạc, trong chão)
sân → nóng giận, giận dữ, như sântâm (lòng giận)
kê → kê cứu, xem xét, như kêc ổ (xét theo các chuyện tích xưa)
cùng → hết mức, cuối cùng, như vô cùng (không cùng, không có
mức cuối)
hồ → dán, trét dính (bằng hồ dán), hồ khẩu (ăn qua loa chỉ vừa
tạm đủ sống)
giam → ngậm kín, khép lại, như giam ngôn (ngậm miệng không
nói)
đế → ràng buộc, gắn kết, như đế h ảo (gắn bó tốt đẹp)
duyên → 1. duyên cớ, nguyên nhân, chỉ cho tất cả trần cảnh vướng
mắc là duyên cớ sinh khởi vọng tâm, như tức ý vong duyên (dứt ý
quên duyên) 2. những điều kiện cần thiết để nhân kết thành quả, như, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ (khi nhân duyên hội
đủ, quả báo phải tự chịu lấy)
hoãn → chậm lại, trì hoãn, như bất khả hoãn (không thể chậm
trễ)
miến → cách xa, như miến hoài (nhớ nhung xa cách), miến ly
(rời bỏ cách xa)
phu → da, như cử thể vô toàn phu (khắp thân thể không một
mảnh da nào còn nguyên vẹn)
bồng → cỏ bồng, lều tranh, như tất môn bồng hộ (nhà tranh
cửa cỏ, chỉ nhà nghèo khó)
liên → hoa sen, như thanhliên (hoa sen xanh)
tất → cây tất, cây kinh, một loại cỏ mọc thành bụi, dùng đan bện
thành cửa gọi là tất môn, thường dùng chữ này chỉ nhà nghèo khổ.
tế → bao trùm khắp hết, như ánh tế nhất thiết (sáng soi khắp
chốn)
thùy → ai, người nào, dùng trong câu hỏi, như thử sự thùy
kiến thùyvăn (việc này ai thấy ai nghe?)
đàm → bàn bạc, trò chuyện, như đàm thuyết (bàn luận giảng
giải)
tránh → tranh chấp, giành lấy phần thắng, như bất tránh (không
tranh chấp)
luận → bàn, tính, như luận thiên phó tiền (tính theo ngày mà
trả tiền), phi luận kiếp số (không tính được số kiếp, nghĩa là nhiều
vô kể)
chư → các, những, chỉ số nhiều, như đa chư quá cữu (nhiều
sự lầm lỗi)
tứ → ơn huệ, như chúngsinhth ọt ứ (chúng sinh được nhờ ơn)
hiền → người hiền, bậc hiền đức, như vãng thánh tiên hiền
(các bậc hiền thánh trước đây, nghĩa là trong quá khứ)
chất → tính chất, bản chất, như bảo trì huyễn chất (giữ gìn
lấy cái tính chất hư huyễn không thật)
thú → chỗ hướng đến, mục đích, như chỉ thú (tôn chỉ, mục đích)
huy → sáng soi, rực rỡ, như Phật nhật trùng huy (mặt trời Phật
pháp lại sáng soi rực rỡ)
luân → xoay vòng, chuyển đổi, như luân lưu (thay nhau xoay
vòng, nghĩa là hết người này đến người khác), luân hoán (thay đổi sửa
chữa, nghĩa là bỏ điều xấu mà theo điều tốt)
thiên → thay đổi, dùng trong thiên duyên để chỉ việc lần lữa, kéo
dài thời gian, như thiên duyên quáth ời (lần lữa để ngày trôi qua)
chấn → chấn động, như chấn nhiếp (làm cho chấn động khiếp
phục)
dưỡng → nuôi dưỡng, hàm nghĩa các món ăn uống, như bất
cầul ợi d ưỡng (không mong cầu lợi dưỡng)
ngạ → đói, như ngạ quỷ (quỷ đói, do nghiệp lực nên không thể
ăn uống, luôn chịu sự đói khát hành hạ)
dư → dư thừa, vượt quá mức cần thiết, như hữud ư (có dư)
phát → tóc, như thế phát (cắt tóc)
ký → mong muốn, mong mỏi, như ký kỳ xuất ly (mong muốn
đến lúc thoát ra khỏi), ký kỳ thành công (mong muốn được thành
công)
ngưng → ngưng đọng, ngưng kết lại, như băng đống thủy
ngưng (băng giá vừa ngưng đọng)
huân → điều tốt đẹp đã làm được, như công huân (công lao,
thành tích nói chung)
khí → dụng cụ, đồ dùng, như thạch khí (đồ đá), vũ khí (công
cụ để chiến đấu), pháp khí (dùng theo nghĩa bóng để chỉ người có thể
làm cho hưng thịnh đạo pháp)
ủng → che lấp, như dị ủng (dễ bị che lấp)
học → học, như học đường (trường học), hậu học (người học
sau)
đạo → chỉ đường, dẫn dắt, như đạo diễn (người chỉ dẫn cách
diễn xuất cho tất cả diễn viên trong vở kịch, bộ phim...), đạo sư (bậc
thầy dẫn đường, dùng để tôn xưng đức Phật)
bằng → nương tựa, như bằng th ị (nương tựa cậy nhờ)
ức → nhớ, tưởng đến, như tương ức (nhớ nhau), mạc ký
mạc ức (không nhớ không tưởng)
giải → trễ nãi, lười, như giải đãi (biếng nhác trễ nãi)
thiện → tự ý làm theo điều gì, như thiện quyền (chuyên quyền,
nghĩa là tự quyết không nghe ai), mạc thiện tùy ư dung bỉ (đừng tự
ý noi theo những kẻ thấp hèn)
trạch → chọn lựa, như trạch bạn (chọn bạn), quyết trạch
thâm áo (quyết định chọn lấy những chỗ sâu kín)
hiểu → sáng sớm, như hiểu tịch (sớm tối), hiểu lộ (sương
buổi sáng sớm)
thụ → cây, như ngạn th ụ (cây đứng ven bờ)
cơ → điểm then chốt, quan yếu, như quân cơ (điểm quan yếu
trong việc quân), nghiên cơ tinh yếu (nghiên cứu kỹ những chỗ then
chốt, tinh yếu)
hoành → rậm rạp, rậm rì, như mạn thảo hoành sanh (cỏ dại
mọc rậm rạp), mãng hoành thi (thây chất thành đống ngổn
ngang dày đặc)
lịch → rõ ràng, rành mạch, như lịch ký thành bại tồn vong (ghi
lại rõ ràng những sự thành bại tồn vong), nhân quả lịch nhiên (nhân
quả rõ ràng như vậy)
táo → tắm rửa, nghĩa bóng là làm cho trong sạch, như tháo tâm
dục đ ức (làm cho lòng dạ trong sạch, nuôi dưỡng đạo đức)
trược → dơ bẩn, như nội trược ngoại thanh (trong lòng nhơ
nhớp, bên ngoài [ra vẻ] trong sạch)
nùng → đậm đặc, mức độ nhiều, như thí lợi nùng hậu (được
cho những món lợi rất nhiều)
ma → chà xát, như ma đao (mài dao)
tích → góp, chứa lại, như tích tụ tư đa (gom chứa lại ngày càng
nhiều hơn)
oanh → xoay quanh, vòng quanh, như oanh triền (ràng rịt bao
quanh)
phược → trói buộc, như sinh tử triền phược (sinh tử trói buộc
vây quanh)
hộc → lụa, như hộcxuyên t ước phi (lụa thủng chim bay)
hưng → nổi lên, dấy lên, như hưng quyết liệt chi chí (bừng
khởi ý chí quyết liệt)
nhị → nhị hoa, như thanhliên nh ịk ết (sen xanh bó nhị)
thân → thân thiết, thường gặp nhau, như thân cận cao đức
(thường gần gũi các bậc cao đức)
gián → can ngăn, ngăn ngừa, như vãng giả ký bất khả gián
(việc xưa kia đã không thể ngăn được)
am → thông thạo, am hiểu, như vị am pháp luật (chưa thông
hiểu giới luật)
vị → rằng, nói rằng, như vị ngôn (nói rằng), tương vị
xuất gia quý cầu y thực (toan nói rằng việc xuất gia quý ở chỗ cầu được
ăn mặc)
lại → nhờ cậy, nhờ vả, như chung thân ỷ lại (suốt đời dựa
dẫm, ỷ lại)
du → nhảy qua, bỏ qua, như mạc mạn khuy du (đừng khinh
thường mà giảm bớt, bỏ qua)
chủng → gót chân - dùng trong từ ghép lủng chủng để chỉ dáng
đi lóng cóng của người già, như lủng chủng lão hủ (già yếu lóng
cóng vô dụng)
biện → có đủ, như đãn biện khẳng tâm (chỉ cần có đủ quyết
tâm)
biện → biện biệt, phân biệt, như đông tây mạc biện (không
phân biệt được đông tây)
di → truyền lại, để lại, như di chúc (lời dặn lại của người chết),
phụm ẫuchi di th ể (thân thể của cha mẹ truyền lại)
cứ → cái cưa, như lợi c ứ gi ảichi (cưa sắc cưa đứt lìa ra)
thác → sai trái, như nhất thác (một lần sai)
diêm → dùng trong từ ghép Diêm ông, chỉ Diêm vương, tức là
vị chủ quản nơi cõi âm theo quan niệm xưa của người Trung Hoa.
tùy → đi theo, thuận theo, như thức tâm tùy nghiệp (tâm thức
tùy theo nghiệp lực)
hoắc → bỗng chốc, bất chợt, như hoắc nhiên (bỗng nhiên), dùng
trong cụm từ huy hoắc để chỉ khoảng thời gian thay đổi trong chớp
nhoáng, nhanh chóng, như lâm hành huy hoắc (giờ ra đi chỉ trong
thoáng chốc - nói đến lúc lâm chung)
triêm → nhận chịu, như triêm ân (chịu ơn), hư triêm tín thí
(uổng nhận của tín thí)
tĩnh → yên tĩnh, yên lặng, như tĩnh ngôn tư chi (dừng lời suy
xét)
đầu → cái đầu, như khiết liễu tụ đầu huyên (ăn rồi
dụm đầu nói chuyện huyên thuyên)
tần → nhiều lần, thường lặp lại, như tần thiên tỷ (nhiều
lần dời chuyển), tần phạm thi-la (thường nhiều lần phạm vào giới
luật)
xan → miếng ăn, bữa cơm, như nhất xan nhất thủy (miếng
cơm ngụm nước)
mặc → lặng yên tịchm ặc (vắng lặng)
quy → con rùa, dùng trong cụm từ quy cảnh để chỉ đến khuôn
phép giáo hóa, vì nghĩa dùng mai rùa để đoán việc tương lai và dùng cái
gương để chiếu xét việc tốt xấu trong hiện tại.
thường → đền bồi, bồi thường, như thùth ường (đền trả lại)
ưu → dùng trong từ ghép ưu-bà-tắc để phiên âm chữ Phạn
upāsaka, chỉ người cư sĩ nam.
di → dùng trong các cụm từ phiên âm như Di-đà, tức đức Phật A-
di-đà (Amitābha ), sa-di (śrāmaṇeraka - vị xuất gia còn nhỏ tuổi, chưa
thọ Cụ túc giới)
khẩn → chân thành, hết lòng, như khẩn cầu (hết lòng cầu xin),
khẩn tu (hết lòng tu tập)
ưng → nên làm, như bất ưng tự khinh (không nên tự coi
thường mình), ưng tu bác vấn tiên tri (nên phải rộng hỏi những
người biết trước)
ưng → ứng theo, phù hợp theo với, như tương ứng (phù hợp qua
lại với nhau), ứng d ụng (dùng vào chỗ thích hợp)
nghĩ → nghĩ đến, định làm, như, động kinh niên tải, bất
nghĩ khí ly (nhiều năm trôi qua, không nghĩ đến chuyện dứt bỏ)
liễm → gom lại, rút lại, như thúc liễm (gom lại một mối để chế
ngự), tậpli ễm (gom lại để dứt bỏ)
đàn → dùng trong đàn việt hay đàn-na để phiên âm tiếng
Phạn là dānapati, chỉ những người phát tâm cúng dường cho chư tăng.
thấp → ướt, như thấpy (ướt áo)
tế → cứu giúp, như tế khổn phù nguy (cứu giúp người trong
lúc nguy cấp, khốn cùng), tế độ (giúp người vượt qua cơn hoạn nạn),
bạt t ếtamh ữu (bạt khổ cứu nguy khắp trong ba cõi)
đào → con sóng, như tứ hải ba đào (sóng nước bốn biển). ba
là con sóng nhỏ, đào là con sóng lớn.
lạm → bừa bãi, quá mức, như lạm dụng (dùng quá nhiều, đến
mức không hợp lý), lạm xí tăng luân (bừa bãi đứng vào hàng tăng
chúng, nghĩa là không xứng đáng)
trạc → dùng nước rửa sạch, như châu bị trạc (như hạt
châu mang rửa sạch)
tường → vách, tường, như xúc sự diện tường (gặp việc quay
mặt vào vách, nghĩa là không biết cách ứng phó)
hoạch → thu hoạch, nhận lấy (như kết quả việc gì), như
cát-la tiểu tội, thượng hoạch thử báo (tội cát-la nhỏ nhặt, mà còn nhận
lấy quả báo ấy)
liệu → trị liệu, chữa khỏi, làm dứt điều gì, như dương đồng
nan li ệu khát (nước đồng sôi không làm hết cơn khát)
thiền → phép tu thiền, như tham thiền (học thiền), thiền sư
(bậc thầy tu thiền)
tháo → thô sơ, không kỹ lưỡng, thường dùng thô tháo để chỉ
những gì chưa được tinh luyện, làm kỹ, như tình tồn thô tháo (còn
giữ những tánh tình thô thiển)
mi → cháo, nát nhừ ra như cháo, như cốt nhục đô mi (xương
thịt đều nát nhừ)
phẩn → phẩn, chất thải sau khi tiêu hóa, như phẩn uế (phẩn dơ)
túng → cho dù, giá như, như, túng hữu đàm thuyết, bất
thiệp điển chương (giá như có bàn luận giảng giải cũng không liên quan
gì đến kinh điển)
tổng → tổng cộng, tất cả, hết thảy, như tổng thị đồ lao tân
khổ (hết thảy đều là uổng công lao nhọc khó khổ)
phồn → rất nhiều, như phồn tinh mãn thiên (sao đầy trên trời),
thọ d ụng ân ph ồn (nhận dùng quá nhiều)
liên → kết nối, nối liền, như tùng thử liên nhân (từ nay gắn kết
thành thân thuộc)
thanh → âm thanh, tiếng động, như oản bát tác thanh (chén bát
tạo thành tiếng, nghĩa là khua đụng vào nhau), văn thanh kiến sắc
(nghe âm thanh, thấy hình sắc)
tủng → cao ngất, cao vút, như cao sơn tủng lập (núi đứng cao
chót vót), thướng t ủng thiênt ầm (lên cao vút đến ngàn tầm)
nùng → mủ, chất lỏng chảy ra từ ung nhọt, như nùng huyết
(máu mủ)
lâm → vào lúc, đến lúc, như lâm khát quật tỉnh (đến lúc khát
mới đào giếng), lâm hành (lúc lên đường, ra đi),
cử → cử động, hành vi, như cử thố (hành động, việc làm nói
chung)
gian → khó khăn, vất vả mới làm được, như gian nan (khó khăn
vất vả)
khuy → giảm bớt, không còn đủ, như mạc mạn khuy du (đừng
khinh thường mà giảm bớt, bỏ qua)
lâu → côn trùng, dùng trong từ ghép lâu nghĩ để chỉ chung các
loại côn trùng nhỏ nhít, đôi khi cũng hàm ý chỉ người hạ tiện, hèn kém.
tạ → từ tạ, rời đi, như thầnchi d ụct ạ (thần thức sắp rời đi)
trám → lừa dối, lường gạt, như bị trám (bị lừa dối), tương
trám (lừa dối nhau)
xu → nghiêng về, ngả về, như xu hướng (có khuynh hướng
nghiêng về)
sa → dùng trong từ ghép sa đà để chỉ việc lần lữa, bỏ phí thời
gian, như tuế nguy ệt sa đà (tháng năm lần lữa luống qua)
tị → tránh né, như tịvũ (tránh mưa), đào t ị (trốn tránh)
hồn → trở lại, như hoàn gia (trở lại nhà), quả báo hoàn tự
thọ (quả báo trở lại tự chịu lấy)
tuy → tuy nhiên, tuy là, như tuyb ấtth ấpy (tuy là không ướt áo)
sương → giọt sương, như xuân s ương (giọt sương mùa xuân)
điểm → chấm, điểm, vật thể rất nhỏ, như đại thiên trần điểm
(bụi nhỏ trong khắp cõi đại thiên [thế giới])
trai → ăn chay, người xuất gia ăn món ăn chay lạt và đúng giờ trong
ngày gọi là trai, như khẩn tu trai giới (hết lòng tu tập giữ gìn trai
giới)
tùng → tụ họp, gom lại, như phẩn uế tùng trung (phẩn dơ tụ
lại bên trong)
nhiễu → rối loạn, rối rắm, lộn xộn, như nhiễu nhưỡng chung
thân (suốt đời rối rắm bận bịu)
đốn → dứt khoát, rạch ròi, như quyết đoán (quyết định dứt
khoát, không chần chừ lưỡng lự)
đốn → dứt đoạn, cắt đứt, như đoạn tuyệt (cắt đứt hoàn toàn),
mạc đo ạnm ạc t ục (không cắt đứt cũng không nối tiếp)
quy → về, hướng về, như chỉ quy (chỉ về, hướng về)
chiêm → chiêm bái, chiêm ngưỡng, như chiêm xá-lợi (chiêm bái
xá-lợi Phật)
lễ → lễ nghi, phép tắc trong việc ứng xử, như vô lễ (không giữ
lễ phép)
uế → dơ nhớp, như phẩnu ế (phân dơ bẩn)
khiếu → lỗ, như thất khiếu (bảy lỗ, chỉ 2 lỗ mắt, 2 lỗ mũi, miệng
và đường đại tiểu tiện), hữu nhất khiếu nhi giai tùng đao cát
(các lỗ trên thân đều bị dao cắt)
chí → dệt vải, như phưởng chí (xe tơ dệt vải)
cựu → cũ, xưa, trước đây, như cựu thị ông nhi kim tác phu
(đời trước là cha, đời nay lại làm chồng)
tát → dùng trong từ ghép Bồ Tát để dịch chữ Bodhisattva trong
Phạn ngữ, như phátB ồTátnguy ện (phát khởi nguyện Bồ Tát)
tạng → chất chứa, cất giữ, che giấu, như thiểu lộ đa tạng (ít
người bày tỏ, nhiều người che giấu)
phú → che chở, che khuất, như thiên tuy cao bất năng phú
ngã (trời tuy cao không thể che chở cho ta)
man → khinh thường, như mạc mạn khuy du (đừng khinh
thường mà giảm bớt, bỏ qua)
chuyển → thay đổi, trở nên, như tích lụy chuyển thâm (chất
chứa phiền lụy thành ra sâu dày), chuyển tức thị lai sanh (thay
đổi hơi thở tức sang kiếp khác)
quyết → thiếu khuyết, không đầy đủ, như ứng dụng bất
khuyết (chỗ dùng không thiếu khuyết)
song → đôi, cả hai, như bi trí song vận (vận dụng cả hai, bi và
trí)
tạp → hỗn tạp, nhiều thứ khác nhau không có sự chọn lọc, như
tạp sắc (nhiều màu lẫn lộn), tạp sự (công việc linh tinh), tạp thoại
(câu chuyện hỗn tạp, lộn xộn không chủ đích, không đề mục)
ly → rời bỏ, rời đi, như cố dĩ khíly (vốn đã dứt bỏ rời đi)
tiên → cây roi, dùng roi đánh, quất, như tiên lư xuất huyết
(dùng roi đánh con lừa chảy máu)
thiết → tham ăn, như thao thi ết (ham muốn, tham đắm)
hoài → hoài bão, sự mong muốn ôm ấp trong lòng, như đặc đạt
chihoài (hoài bão rộng lớn khác người)
phàn → leo cây, như phàn ki ếm th ụ (leo cây kiếm)
khoáng → rộng lớn, mênh mông, nhiều, như tùng khoáng kiếp
lai (từ vô số kiếp đến nay)
si → ngu si, si mê, như nhưngc ựusimê (vẫn si mê như cũ)
ngại → ngăn trở, làm vướng víu, như ngại thủ ngại cước
(vướng víu tay chân), vật khởi ngại nhân (vật làm sao ngăn trở được
người)
hệ → trói buộc, ràng buộc, như bị hệ (bị trói buộc), nghiệp
hệ th ọ thân (nghiệp quả ràng buộc thọ nhận lấy thân)
la → dùng trong cụm từ bà-la-môn để phiên âm tiếng Phạn là
brāhmana.
lạp → tuổi hạ, như niên cao lạp trưởng (tuổi đời cao, tuổi hạ
nhiều) - Người xuất gia mỗi năm tham gia an cư một lần vào ba tháng
trong mùa hạ, gọi là một tuổi hạ, ở Việt Nam là từ rằm tháng tư cho đến
rằm tháng bảy. Như vậy, tuổi hạ tức là tuổi đạo, thể hiện thời gian xuất
gia lâu hay mau.
ngẫu → ngó sen, như hồngng ẫu (ngó sen hồng)
đằng → thực vật thân bò, dây leo, như tỉnh đằng (dây leo trong
miệng giếng) - Cụm từ này lấy điển tích trong kinh Đại Tập: Có người
bị hai con voi say đuổi, bám theo sợi dây mà xuống giếng. Nhìn xuống
bên dưới thấy có ba con rồng phun lửa giương vuốt, liền bám chặt dây
dừng lại. Bên trên liền có hai con chuột, một trắng một đen, cùng nhau
gặm nhấm sợi dây,
nghĩ → con kiến, cũng dùng trong lâu nghĩ để chỉ chung các loại
côn trùng nhỏ nhoi.
chứng → chứng quả, như chứng hư không chi quả (chứng
đắc quả vị như hư không)
thức → thần thức, như thức tâm tùy nghiệp (tâm thức phải theo
nơi nghiệp lực dắt dẫn)
từ → từ biệt, từ giã, như từ thân quyết chí phi truy (từ biệt
những người thân, quyết chí khoác áo người tu)
biên → bờ, bên, như giábiênna biên (bên này bên kia)
kính → cái gương soi, dùng trong cụm từ quy cảnh để chỉ đến
khuôn phép giáo hóa, vì nghĩa dùng mai rùa để đoán việc tương lai và
dùng cái gương để chiếu xét việc tốt xấu trong hiện tại.
nan → khó, như hậu hối nan truy (về sau hối tiếc cũng không
kéo lại được), thử tôngnanđ ắc (phép tu này khó được)
vụ → sương mù, như vụ l ộtrung hành (đi trong sương móc)
mị → dùng trong từ ghép ủym ị (yếu hèn)
sáo → giấu kín, không cho người khác biết, như thao hối (người
có tài mà giữ kín không cho người khác biết), hối tích thao danh (ẩn
giấu hình tích tên tuổi, không cần cho ai biết đến)
nguyện → mong muốn, cầu cho được, như, nguyện bá
kiếp thiên sanh, xứ đồng vi pháp lữ (nguyện cho trăm ngàn kiếp, dù ở
đâu cũng được cùng làm bạn tu)
tảng → cái trán, như khểt ảng (cúi lạy dập trán sát đất)
điên → đỉnh, nơi cao nhất, như thượng cửu tằng chi
tháp, t ấtt ạo kỳ điên (leo tháp cao chín tầng phải đến tận đỉnh)
loại → loài, như dị loại (loài khác, chỉ các loài vật, không phải
loài người)
khuyến → khuyên bảo, như tươngkhuy ến (khuyên bảo nhau)
nghiêm → nghiêm khắc, như kỷ luật ngận nghiêm (kỷ luật rất
nghiêm khắc), nghiêm thân (nghiêm khắc với thân mình, nghĩa là không
buông thả)
bảo → báu, quý báu, như Tam bảo (Ba ngôi báu, chỉ Phật, Pháp
và Tăng-già), vô giáb ảochâu (hạt châu quý báu vô giá)
huyền → treo lên, như huyền tại cao tràng (treo lên phướn
cao)
sám → sám hối, ăn năn, hối tiếc về việc sai trái đã làm, như
hữu tội bất sám (có tội không chịu sám hối). Xuất phát từ chữ sám-ma
được dùng để dịch chữ kṣama trong Phạn ngữ, dịch nghĩa là hối quá
(hối lỗi).
nhưỡng → rối loạn, rối ren, như nhiễu nhưỡng chung thân
(suốt đời rối rắm)
lịch → đá sỏi, đá vụn, như ngõa lịch (ngói sỏi, chỉ những thứ tầm
thường, vô giá trị)
cạnh → ganh đua, chen nhau giành phần hơn, như cạnh tranh
(ganh đua nhau, tìm mọi cách để giành phần hơn)
kế → nối dõi, tiếp theo, như kế tự (nối dõi dòng tộc)
uẩn → tích tụ, cất chứa lại, như uẩn tố tinh thần (tích chứa sự
trong sạch tinh thần)
nhuyễn → mềm mại, như nhuyễn hình (loài thân mềm, như con
giun, con đĩa), nhuyễnđ ộngquyênphi (chỉ chung các loài động vật)
giác → phát giác, nói ra, như tài tương giác sát (vừa tìm biết
nói ra chỗ lỗi lầm)
xúc → tiếp xúc, gặp, như xúc sự diện tường (gặp việc quay
mặt vào vách), xúc đ ồ thành tr ệ (đường đi tới thành ra ngưng trệ)
cảnh → răn dạy, như cảnh chúng (răn dạy mọi người), cảnh
sách (răn dạy khuyến khích - cảnh nghĩa là lấy điều đúng sai, lẽ hơn
thiệt để dạy bảo cho biết việc nên làm, nên bỏ; sách nghĩa là khuyến
khích, sách tấn, thúc giục người ta phải nỗ lực tiến lên)
thí → thí dụ, lấy điều giống nhau để so sánh, như thí như xuân
sương (giống như sương mùa xuân)
thích → dùng trong từ ghép Thích-ca, danh hiệu Phật Thích-ca
(Śākya)
xiển → mở rộng, như xiển d ương (mở rộng, làm sáng tỏ)
cơ → đói, như trừ c ơ (trừ cơn đói)
đảng → họ hàng thân tộc, như phụ đảng (họ hàng bên nội),
thêđ ảng (họ hàng bên vợ), hương đ ảng (xóm giềng thân tộc)
hiêu → ồn ào, ầm ĩ, như khiếu hiêu (gọi ầm lên), huyên hiêu
chỉ tuy ệt (ngăn dứt sự ồn ào huyên náo)
thuộc → cùng dòng họ, thân thuộc, như quyến thuộc (thân quyến
họ hàng)
cụ → sợ sệt, như hào vô sở cụ (không sợ sệt chút nào), ưu
cụ (lo lắng sợ sệt)
nhiếp → nhiếp phục, làm cho khuất phục, như chấn nhiếp ma
quân (làm cho quân ma phải chấn động khuất phục)
huề → dắt díu, kéo đi, như đề huề (dắt díu nhau đi, giúp đỡ lẫn
nhau)
nẵng → trước đây, xưa kia, như nẵng thời (thời trước), nẵng
nhật (ngày trước), nẵngki ếp (kiếp trước)
lạn → chín bấy, như can trường tận lạn (gan ruột đều nát bấy
[vì nóng])
tục → nối tiếp, như kế tục (tiếp nối theo), liên tục (nối tiếp
không dứt), mạcđo ạnm ạct ục (không dứt bỏ cũng không nối tiếp)
triền → ràng rịt quấn quít không dứt ra được, như triền nhiễu
(buộc quanh), triền miên (kéo dài mãi không dứt), chúng khổ oanh
triền (các nỗi khổ ràng rịt vây quanh)
lãm → xem, nhìn thấy, như bác lãm (rộng xem nhiều việc),
triển lãm (bày ra cho mọi người đều có thể xem), duyệt lãm thất
(phòng đọc sách), thục lãm t ư văn (hãy xem thật kỹ bài văn này)
hộ → giúp đỡ, che chở bảo vệ, như hộtrì (bảo hộ gìn giữ)
thiết → sắt, như nhiệt thi ết (sắt nóng)
lộ → sương, móc, như xan phong túc lộ (ăn gió ngủ sương -
nghĩa là dầm sương dãi gió), hiểu l ộ (sương buổi sớm)
hưởng → tiếng vọng của âm thanh, như thanh hòa hưởng
thuận (âm thanh hài hòa thì tiếng vọng thuận theo)
ma → ma quỷ, điều xấu ác, như ma quân (quân của ma, nghĩa là
những điều xấu ác)
thính → nghe, như thính sát (nghe và suy xét)
thao → người tham ăn, dùng trong cụm từ thao thiết để chỉ sự
ham muốn, tham đắm.
luyến → nhớ tưởng đến điều gì không thể dứt được, như lưu
luyến (bịn rịn hoài không dứt), luyến gia (nhớ nhà), tham luyến (tham
muốn không dứt)
tài → vừa mới, như tài kiến (vừa mới trông thấy đây), tài
đănggi ớiph ẩm (vừa mới thọ giới)
biến → hóa ra, biến đổi thành, như tùng tâm biến khởi (từ nơi
tâm hóa ra)
lủng → dùng trong từ ghép lủng chủng để chỉ dáng đi lóng cóng
của người già, như lủng ch ủng lãoh ủ (già yếu lóng cóng vô dụng)
hiển → hiện ra rõ ràng, lộ ra, như tánh đức phương hiển (tánh
đức mới hiển lộ ra)
thể → thân thể, như phụ mẫu chi di thể (thân thể do cha mẹ
truyền lại)
linh → linh, linh hiển, như thần linh (vị thần linh hiển), cũng
dùng chỉ thần thức con người, như tử bất năng đạo kỳ thần linh
(chết đi không dẫn dắt được thần thức)
quan → xem, nhìn thấy, như dung mạo khả quan (hình dung
dáng vẻ có thể xem được, nghĩa là đẹp đẽ, dễ coi)
lư → con lừa, như tiên lư xuất huyết (dùng roi quất con lừa
chảy máu)
Also By Nguyễn Minh Tiến
toàn → xoi lỗ, khoan, đâm vào, như châmtoàn (kim châm vào)
OceanofPDFcom.
Also by Nguyễn Minh Tiến
An Sĩ Toàn Thư
Khuyên người tin sâu nhân quả - Quyển Thượng
Khuyên người tin sâu nhân quả - Quyển Hạ
Khuyên người bỏ sự giết hại
Khuyên người bỏ sự tham dục
Khuyên người niệm Phật cầu sinh Tịnh độ
Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Ba điểm tinh yếu trên đường tu tập
Tổng quan về các pháp môn trong Phật giáo Tây Tạng (song ngữ Anh
Việt)
Tứ Diệu Đế
Vầng sáng từ phương Đông
Yếu lược các giai đoạn trên đường tu giác ngộ
Hòa Thượng Tịnh Không
Giảng giải Cảm ứng thiên
Kinh điển Tiếng Việt
Đọc Kinh Trường Bộ
Mật tông Tây Tạng
Các vị chân sư Đại Thủ Ấn
Các vị Đại sư tái sinh Tây Tạng
Hành trình giác ngộ
Kho tàng các giáo huấn siêu việt về tri giác trí tuệ nguyên thủy
Trí Tuệ Hoan Hỷ
Phù trợ người lâm chung
Lời Đạo Sư
Năng Lực Chữa Lành Của Tâm
Nguyên Lý Duyên Khởi
Những Thực Hành Trọng Yếu
Phát Tâm Bồ Đề
Thiền
Thiếu Thất Lục Môn
Tứ Phần Luật
Giới Luật Bậc Tỳ-kheo
Giới Luật Bậc Tỳ-kheo-ni
Giới Luật và Oai Nghi của Bậc Sa-di và Sa-di-ni
Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Học Phật Đúng Pháp
Tự lực và tha lực trong Phật giáo
Cẩm nang phóng sinh
Standalone
Truyện Phật Thích-ca
The Future We All Deserve
Các tông phái Đạo Phật
Chuyển họa thành phúc
Chuyện Phật đời xưa
Công đức phóng sinh
Đức Phật Bên Trong
Đừng Bận Tâm Chuyện Vặt
Giải Thích Kinh Địa Tạng
Tây Vực Ký
Các bài tiểu luận về Phật giáo của Trần Trọng Kim
Hồ Sơ Mật 1963
Kinh A Di Đà
Kinh Bi Hoa
Kinh Pháp Bảo Đàn
Lục Tổ Đại Sư - Con Người Và Huyền Thoại
Lược Sử Phật Giáo
Một Trăm Truyện Tích Nhân Duyên Phật Giáo
Mục lục Đại Tạng Kinh Tiếng Việt
Nhân Quả Phóng Sanh
Những Chuyện Nhân Quả
Phúc trình A/5630
Quy Nguyên Trực Chỉ
Quy Sơn Cảnh Sách
Rộng Mở Tâm Hồn (song ngữ Anh-Việt)
Rộng Mở Tâm Hồn và Phát Triển Trí Tuệ
Sống Một Đời Vui
Bát Nhã Tâm Kinh Khảo Luận
Vài suy nghĩ về Đại Tạng Kinh: Hiện trạng và Tương lai
Tổng quan kinh Đại Bát Niết-bàn
Truyện Cổ Phật Giáo
Truyện Phật Thích Ca
Truyền thuyết về Bồ Tát Quán Thế Âm
Bhutan có gì lạ?
Truyện tích Vu Lan
Góp Nhặt Thời Gian
Watch for more at Nguyễn Minh Tiến’s site.
OceanofPDFcom.
About the Author
Nguyễn Minh Tiến (bút danh Nguyên Minh) là tác giả, dịch giả của nhiều
tác phẩm Phật học đã chính thức xuất bản từ nhiều năm qua, từ những
sách hướng dẫn Phật học phổ thông đến nhiều công trình nghiên cứu
chuyên sâu về Phật học. Ông cũng đã xuất bản Mục lục Đại Tạng Kinh
Tiếng Việt, công trình thống kê và hệ thống hóa đầu tiên của Phật giáo
Việt Nam về tất cả những Kinh điển đã được Việt dịch trong khoảng
gần một thế kỷ qua. Các công trình dịch thuật của ông bao gồm cả
chuyển dịch từ Hán ngữ cũng như Anh ngữ sang Việt ngữ, thường được
ông biên soạn các chú giải hết sức công phu nhằm giúp người đọc dễ
dàng nhận hiểu. Ông cũng là người sáng lập và điều hành Cộng đồng
Rộng Mở Tâm Hồn với hơn 9.000 thành viên trên toàn cầu. Hiện nay ông
là Thư ký của United Buddhist Foundation (Liên Phật Hội) có trụ sở tại
California, Hoa Kỳ. Tổ chức này đã tiếp quản toàn bộ các thành quả của
Rộng Mở Tâm Hồn trong hơn mười năm qua và đang tiếp tục phát triển
theo hướng liên kết và phụng sự trên phạm vi toàn thế giới.
Read more at Nguyễn Minh Tiến’s site.
OceanofPDFcom.
About the Publisher
For the purposes and principles set out, the United Buddhist Foundation
will take the appropriate direction of action from time to time, so that it is
always in line with the guiding principles of the Foundation and has the
highest efficiency in achieving its goals.
Selecting and publishing sutras and Buddhist books relevant to the
practice of the Buddhists, especially for the Buddhist beginners. The
publishing works may be periodical or on festive occasions during the year,
depending on the capabilities and convenience.
OceanofPDFcom.